Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Những CEO “không bằng cấp” nổi tiếng thế giới

Nhiều doanh nhân nổi tiếng trên thế giới chưa hề tốt nghiệp đại học hoặc thậm chí là trung học. Tuy nhiên, họ vẫn thành công bởi sự tài trí, khôn ngoan và cả may mắn. Đó là sự thật.

Họ đã chứng minh được quan điểm cho rằng, con đường thành công không nhất thiết phải đi qua cổng trường đại học. Dẫu vậy, nếu dùng câu chuyện của họ để dạy dỗ con cái, có lẽ chúng ta chỉ có thể coi những doanh nhân này là "tấm gương" về kinh doanh mà thôi.

Dưới đây là 10 gương mặt giám đốc điều hành (CEO) tiêu biểu:

1. Alfred Taubman

Chức danh: Nhà sáng lập Taubman Centers
Giá trị vốn hóa thị trường: 3,3 tỷ USD

Alfred Taubman là người sáng lập và cựu CEO của Taubman Centers. Ông bắt đầu sự nghiệp trong ngành bán lẻ tại cửa hàng Sims khi mới 11 tuổi và làm ở đó cho tới hết những năm trung học. Sau khi tốt nghiệp, ông thi đậu vào trường Đại học Michigan ở Ann Arbor.

Ông học ở đây chưa tới một năm thì bị gọi nhập ngũ trong chiến tranh thế giới thứ hai. Sau khi kết thúc nhiệm vụ trong quân đội, ông trở lại Đại học Michigan để theo khóa học nghệ thuật và kiến trúc. Tuy nhiên, không lâu sau đó, ông đã cầu hôn một cô bạn học, rồi chuyển sang lớp học vào buổi tối.

Thay vì hoàn thành khóa học và nhận bằng tốt nghiệp, Taubman nhận thấy cơ hội kinh doanh trong ngành bất động sản. Trong cuốn sách của ông mang tên "Threshold Resistance", Taubman cho biết, ông nhận thấy tầng lớp trung lưu đã tăng trưởng nhanh chóng sau chiến tranh.

Do vậy, Taubman đã quyết định đổ tiền vào lĩnh vực này với việc sáng lập công ty bất động sản Taubman Centers. Trong suốt 50 năm, Taubman không ngừng mở rộng kinh doanh và đưa công ty lên sàn vào năm 1992. Hiện CEO của công ty là Robert Taubman, con trai cả của ông. Và tất nhiên, Robert Taubman đã tốt nghiệp đại học.

2. Richard Schultz

Chức danh: Nhà sáng lập kiêm cựu CEO của Best Buy
Giá trị vốn hóa thị trường: 10,1 tỷ USD

Richard Schultz là nhà sáng lập kiêm cựu CEO của Best Buy. Cũng như Taubman, Schultz bắt đầu làm việc từ năm 11 tuổi với nghề bán báo dạo. Ông đã trải qua vô số nghề trong suốt thời gian học trung học. Ông dự định thi vào trường Đại học St. Thomas, nhưng giấc mơ của ông đã tan thành mây khói vì phải tham gia phục vụ quân ngũ.

Sau khi giải ngũ, Schultz cùng với bố ông hành nghề bán các linh kiện điện tử. Vài năm sau đó, ông thành lập công ty riêng, The Sound of Music, chuyên bán các linh kiện âm thanh, băng đĩa hát và nhạc cụ.

Vào những năm 1980, Schultz nhận thấy rằng một doanh nghiệp nhỏ sẽ không thể sống sót trong một ngành kinh doanh phát triển rộng lớn. Bởi vậy, ông đã đổi tên công ty thành Best Buy và mở rộng dòng sản phẩm. Schultz cho rằng, khách hàng sẽ kéo tới cửa hàng của ông nếu họ có thể nhìn thấy những hàng hóa họ muốn mua ngay trên các kệ hàng, thay vì để chúng ở trong kho. Điều này đã mang tới một trải nghiệm mới cho người tiêu dùng.

Mặc dù hiện tại Schultz đã từ bỏ các công việc của một vị CEO, nhưng ông vẫn đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng quản trị của Best Buy. Dù ông không thể học ở trường Đại học St. Thomas nhưng Schultz đã nhận được bằng tiến sỹ luật danh dự của trường này.

3. Ralph Lauren

Chức danh: CEO của Polo Ralph Lauren
Giá trị vốn hóa thị trường: 11,9 tỷ USD

Ralph Lauren là CEO của hãng Polo Ralph Lauren, một trong những công ty thời trang thành công nhất trên thế giới hiện nay. Ông đã thành lập doanh nghiệp này vào năm 1967 với dòng sản phẩm cà vạt cho nam giới và sau đó phát triển công ty thành một đế chế thời trang toàn cầu.

Phong cách cổ điển độc đáo tương phản với kiểu thời trang thông thường vào thập niên 1960, đã mang lại sự thành công cho những thiết kế trang phục của Lauren.

Theo trang web của Lauren, ông chưa bao giờ học một trường đào tạo nào về thời trang. "Tôi chỉ là một chàng trai trẻ có một vài kiểu mẫu. Tôi chưa bao giờ tưởng tượng rằng Polo sẽ lớn mạnh như ngày nay. Tôi chỉ đi theo bản năng của chính mình", ông viết.

Và chỉ với tấm bằng trung học trên tay, Lauren đã đi theo tiếng gọi của bản năng. Quyết định từ bỏ việc học đại học và tập trung điều hành công ty đã mang lại hàng loạt đột phá mới trong thế giới thời trang. Ông tiếp tục xây dựng đế chế của mình, mở rộng phạm vi kinh doanh sang cả thời trang cho phụ nữ và trẻ em, hương liệu và trang thiết bị nội thất.

4. Richard Branson

Chức danh: CEO tập đoàn Virgin
Giá trị của công ty: 18 tỷ USD
Giá trị vốn hóa thị trường của hãng truyền thông Virgin: 8,1 tỷ USD

Branson chưa từng tốt nghiệp trung học, chứ đừng nói gì tới đại học. Vị CEO của tập đoàn Virgin này đã bỏ học từ lúc 16 tuổi để bắt đầu kinh doanh cuốn tạp chí Sinh viên. 4 năm sau đó, Branson sáng lập tập đoàn Virgin, công ty bán lẻ đặt hàng qua thư.

Ông mở cửa hàng băng đĩa đầu tiên của mình tại London và 2 năm xây đó mở phòng thu âm đầu tiên của Virgin. Năm 1977, Branson đã ký hợp đồng với nhóm nhạc lớn thời đó, ban Sex Pistols, sau đó là với các nhóm nhạc, nghệ sỹ nổi tiếng như Rolling Stones và Culture Club.

Năm 1984, Branson phát triển Virgin Atlantic và hoạt động kinh doanh của hãng ngày càng mạnh hơn. Hiện tập đoàn Virgin cung cấp các dịch vụ di động, băng thông rộng, truyền hình, đài phát thanh, tài chính, y tế, du lịch, giải trí và đi lại.

5. Micky Arison

Chức danh: CEO của Carnival
Giá trị vốn hóa thị trường: 19,6 tỷ USD

Thay vì dành thời gian bốn năm để học đại học, vị CEO này lại nỗ lực làm việc để xây dựng nên một Carnival lớn mạnh. Micky Arison, CEO của Carnival, bắt đầu làm việc tại bộ phận bán hàng và được thăng chức lên làm phụ trách việc đặt chỗ vào năm 1974. Sau đó ông được bổ nhiệm vào chúc Phó chủ tịch phụ trách vận tải hành khách và chỉ ba năm sau đó trở thành Chủ tịch công ty này.

Arison đã giúp Carnival trong việc thu mua Holland America Line, Windstar Cruises và Westours, đưa Carnival trở thành một trong những công ty du lịch tàu biển hàng đầu. Năm 1987, Arison được bổ nhiệm vào chức chủ tịch ban điều hành và trong năm 2003, ông nắm chiếc ghế CEO - vị trí cao nhất của công ty.

Câu chuyện thành công của Arison đã chứng tỏ, mọi thứ đều có thể thực hiện được, bao gồm cả việc từ một nhân viên bình thường trở thành một CEO mà không cần tới bằng đại học.

6. Michael Dell

Chức danh: Người sáng lập kiêm CEO của Dell
Giá trị vốn hóa thị trường: 30 tỷ USD

Hầu hết các chàng trai trẻ ở tuổi 19 sẽ dành 1.000 USD để đi nghỉ trong dịp lễ tết, hoặc dùng số tiền đó để mua một chiếc xe hơi mới, nhưng Michael Dell lại dành 1.000 USD để thành lập Dell. Ông đã mở rộng công ty với phương châm rằng "công nghệ có thể giúp phát triển tiềm năng con người".

Năm 1992, ông trở thành CEO trẻ nhất lọt vào danh sách Fortune 500 của tạp chí Fortune. Nhân viên của Dell cũng tăng trưởng từ 1 người lúc đầu lên 100.000 người sau 8 năm.

Hiện nay công ty cung cấp các dịch vụ công nghệ thông tin cho các tập đoàn toàn cầu, các chính phủ, các nhà cung cấp dịch vụ y tế, các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở giáo dục và người sử dụng máy tính tại nhà.

Tuy nhiên, Dell không phải là công ty duy nhất do vị CEO này sáng lập. Năm 1998, ông đã sáng lập công ty MSD Capital và 1 năm sau đó là Michael & Susan Dell Foundation, một tổ chức từ thiện cho các vấn đề toàn cầu.

7. Mark Zuckerberg

Chức danh: Người sáng lập kiêm CEO của Facebook
Giá trị công ty: 100 tỷ USD (ước tính gần đây)

Không thể không nhắc tới CEO mạng xã hội lớn nhất toàn cầu. Mark Zuckerberg là nhà sáng lập và CEO của Facebook. Anh đã tỏ ra say mê máy tính ngay từ khi còn nhỏ. Khi còn bé, anh đã tự tạo ra các công cụ liên lạc và trò chơi trong phòng ngủ. Khi lên trung học, Zuckerberg đã viết một chương trình chơi nhạc MP3 và sớm nhận được đề nghị mua lại từ AOL và Microsoft, nhưng anh đã từ chối.

Sau khi được nhận vào trường Đại học Harvard, Zuckerberg đã xây dựng một chương trình mang tên Facemash, đăng tải ảnh của các sinh viên trong trường và cho phép bạn bè của họ được bình chọn xem ai là người hấp dẫn nhất.

Tin đồn về tài năng của chàng trai này nhanh chóng lan rộng và hai sinh viên khác là Cameron và Tyler Winklevoss đã mời anh hợp tác thực hiện ý tưởng xây dựng mạng xã hội mang tên Kết nối Harvard. Không lâu sau, Zuckerberg từ bỏ dự án và bắt đầu thực hiện một mạng xã hội khác.

Ban đầu anh đặt tên nó là TheFacebook.com. Zuckerberg đã bỏ ngang trường đại học trước khi tốt nghiệp, để tập trung vào mạng xã hội này. Facebook hiện có giá trị khoảng 100 tỷ USD nếu anh đưa nó lên sàn.

8. Paul Allen

Chức danh: Đồng sáng lập Microsoft
Giá trị vốn hóa thị trường: 226,2 tỷ USD

Paul Allen là người đồng sáng lập tập đoàn phần mềm Microsoft cùng với Bill Gates, là một vị CEO khác chưa có tấm bằng đại học. Trong cuốn hồi ký mang tên "Người đàn ông lý tưởng", Allen cho biết khi nhìn thấy chiếc máy tính Altair 8800 trên bìa cuốn tạp chí điện tử Popular, ông đã thấy mình được truyền cảm hứng để viết một bộ ngôn ngữ mã hóa.

Allen quen biết Gates và hai ông đều có kỹ năng mã hóa ngôn ngữ lập trình cho máy tính Altair. Sau khi thuyết phục được người bạn cùng cộng tác, hai ông đã cùng nhau mở ra một kỷ nguyên công nghệ mới.

Hiện nay Allen có danh mục đầu tư trị giá hàng tỷ USD, bao gồm các công ty đa truyền thông và công nghệ, cũng như một dự án tái phát triển bất động sản ở Seattle. Ông cũng làm chủ đội bóng đá Seattle Seahawks, đội bóng rổ Portland Trail Blazers và là thành viên của nhóm sở hữu đội bóng đá Seattle Sounders Football Club. Allen đã dành hơn 1 tỷ USD cho các hoạt động từ thiện và tuyên bố có kế hoạch để lại phần lớn số tài sản của mình cho các tổ chức từ thiện.

9. Bill Gates

Chức danh: Đồng sáng lập kiêm Chủ tịch Microsoft
Giá trị vốn hóa thị trường: 226,2 tỷ USD

Bill Gates là nhà sáng lập Microsoft cùng với Paul Allen. Ông đã nhập học tại trường Harvard vào năm 1973. Ông là người đã viết ngôn ngữ lập trình BASIC cho chiếc máy vi tính đầu tiên, khi mới ngồi ghế trường đại học năm đầu tiên.

Tuy nhiên, ông đã bỏ học vào năm thứ hai để tập trung vào công ty Micro-soft mà ông sáng lập cùng người bạn thời ấu thơ Paul Allen.

Nhưng có vẻ như việc sáng lập Microsoft còn chưa đủ, Bill Gates còn ra mắt Corbis, một trong những trang cung cấp thông tin hình ảnh lớn nhất thế giới.

Ông cũng giành được một ghế trong ban quản trị của tập đoàn Berkshire Hathaway của tỷ phú huyền thoại Warren Buffett, một trong những công ty tham dự nhiều lĩnh vực kinh doanh. Hiện Gates là Chủ tịch của hãng Microsoft kiêm chuyên gia cố vấn các dự án phát triển quan trọng.

10. Steve Jobs

Chức danh: Người sáng lập kiêm CEO của Apple
Giá trị vốn hóa thị trường: 362,4 tỷ USD

Ngay từ khi còn nhỏ, CEO của Quả táo khuyết đã tỏ ra thích thú với máy tính. Năm 12 tuổi, Jobs đã gọi điện cho Bill Hewlett, đồng sáng lập hãng máy tính HP, sau khi tìm thấy số điện thoại của ông này trên cuốn danh bạ. Khi Hewlett nhấc máy, Jobs nói: "Chào chú, cháu là Steve Jobs. Cháu 12 tuổi và đang học trung học. Cháu muốn làm một bộ đếm tần số. Cháu không biết liệu chú có phụ tùng thay thế nào mà cháu cần không?".

Hewlett đã cung cấp cho Jobs các linh kiện cần thiết và thuê ông làm việc trong dây chuyền lắp ráp của công ty vào mùa hè năm đó. Trong thời gian này, Jobs đã chơi thân với Stephen Wozniak, một người mà không lâu sau cũng bỏ học ở trường Đại học California tại Berkley.

Sau khi tốt nghiệp trung học, Jobs đăng ký học tại trường Đại học Reed, nhưng sau đó ông đã bỏ ngang. Ông liên lạc lại với Wozniak và đôi bạn này từ bỏ công việc của họ để sản xuất chiếc máy tính đầu tiên trong garage để xe của nhà Jobs.

Có rất nhiều cách giải thích khác nhau về việc đôi bạn này đã sáng lập ra cái tên Apple. Câu chuyện nổi tiếng nhất bắt ngồn từ việc Jobs thường làm việc trong một vườn táo vào mùa hè và rằng ông thích ăn loại trái cây này. Còn miếng táo bị cắn dở là kiểu chơi chữ của từ "byte" trong máy tính (chữ cắn trong tiếng Anh cũng đọc là "bai" - bite).

Trong một cuốn tiểu sử, Jobs nói rằng, bản thân ông đã có giá trị hơn 1 triệu USD khi ông 23 tuổi, tới năm 24 tuổi là 10 triệu và 100 triệu vào năm 25 tuổi. Khai sinh từ trong một garage để xe, đến nay Apple đã trở thành một tập đoàn toàn cầu trị giá hàng tỷ USD. Và sự ra đời của Apple cũng gắn liền với hai sinh viên bỏ học giữa đường.



SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Vneconomy)

Thứ Tư, 10 tháng 8, 2011

EBOOK Kỹ Năng Chăm Sóc Khách Hàng dành cho Cấp Quản Lý

1.TÁC GIẢ: Vietnam Airline






2.NỘI DUNG:

Khóa đào tạo nhằm giúp các bạn có thể tối ưu hóa hiệu quả trong chăm sóc hành khách ở cấp quản lý, thấu hiểu marketing dịch vụ và quản trị các mối quan hệ khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ cho các hãng hàng không và phục vụ hành khách tại sân bay.

1. Marketing dịch vụ

2. Chất lượng dịch vụ

3. Quản trị mối quan hệ khách hàng

4. Chiến lược chăm sóc khách hàng

5. Thương hiệu và hình ảnh công ty





3.DOWNLOAD:


Click here

Pass: sachdoanhtri


Note: Đọc trước khi down

Câu chuyện hàng hóa và bức tranh của nền kinh tế




Một đoạn video ngắn nhưng mang đến cho chúng ta nhiều điều bổ ích, trước hết là nó giúp chúng ta nắm được bao quát về bức tranh của các nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt là nền kinh tế của các nước tư bản. Và nó cũng giúp chúng ta ít nhiều biết được những vấn đề mà mô hình này đang đối mặt, cũng như giải pháp để khắc phục những vấn đề đó.
Từ đó dẫn đến một khái niệm mà trên thế giới đang kêu gọi hướng đến, đó là “phát triển bền vững“, ở đó con người cũng như sự vận hành của nền kinh tế của con người phải hòa hợp và đảm bảo được sự phát triển của thiên nhiên, từ đó rộng hơn đảm bảo được một sự tiến hóa lâu dài của con người cũng như trái đất.
Qua đó cũng thấy được rằng chúng ta còn phải bước những bước tiến rất dài nữa để đến những cột mốc này, hiện tại chúng ta đang chỉ mới ở giai đoạn kêu gọi công nghiệp hóa, hiện đại hóa và rõ ràng những vấn đề về phát triển bền vững vẫn còn quá xa vời. Tuy nhiên biết về nó để khi người ta nói đến thì ít ra chúng ta hiểu 
được nó là cái gì thì cũng tốt.


Một đoạn phim đáng xem!




SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Apo Blog)

EBOOK Bài giảng Quản trị nguồn nhân lực (Human resource management)

1.TÁC GIẢ:  Trường Đại học Trà Vinh






2.NỘI DUNG:

Chương 1.  Đại cương về quản trị nguồn nhân lực

Chương 2.  Môi trường quản trị nguồn nhân lực  

Chương 3. Hoạch định nguồn nhân lực

Chương 4. Phân tích công việc

Chương 5. Tuyển mộ, tuyển chọn nhân viên

Chương 6. Hội nhập môi trường làm việc cho nhân viên  

Chương 7. Tạo động lực trong lao động

Chương 8. Đào tạo và phát triển

Chương 9. Đánh giá năng lực thực hiện công việc của nhân viên 

Chương 10. Thiết lập & quản trị tiền lương

Chương 11. Các khuyến khich tài chính  & phúc lợi

Ngân hàng câu hỏi và đề thi tham khảo.





3.DOWNLOAD:


Click here

Pass: sachdoanhtri


Note: Đọc trước khi down

Biến nỗi “ám ảnh” trở thành cơ hội kinh doanh

Mới nghe qua cụm từ “nhà hàng” có vẻ là nỗi ám ảnh với những người đang muốn có một thân hình thon gọn. Song thực tế, kinh doanh nhà hàng hướng đến những đối tượng mong muốn giảm cân lại là một ngành kinh doanh béo bở.
Hai nhà hàng với cùng một loại thực đơn chứa ít calo. Hai kế hoạch mở rộng thị trường trong cùng một thời điểm. Thương hiệu nào sẽ thắng thế? Hãy xem cách họ chinh phục khách hàng để đạt được thành công trong lĩnh vực kinh doanh không hề dễ dàng này.

Mới nghe qua cụm từ “nhà hàng” có vẻ là nỗi ám ảnh với những người đang muốn có một thân hình thon gọn. Song thực tế, kinh doanh nhà hàng hướng đến những đối tượng mong muốn giảm cân lại là một ngành kinh doanh béo bở. 

Gần đây, hai “ông lớn” trong chuỗi nhà hàng là Energy Kitchen (được bảo trợ bởi công ty VitaminWater của triệu phú Mike Repole) và Seasons 52 (được bảo trợ bởi Darden - thương hiệu khổng lồ xếp sau Olive Garden, Red Lobster and Longhorn Steakhouse) đã đầu tư mạnh tay vào việc phục vụ những bữa ăn ngon mà lại chứa lượng calo thấp. Cả hai nhãn hiệu đều đề ra kế hoạch mở rộng thị trường nội địa trong cùng một khoảng thời gian và đều thiết kế các thực đơn bao gồm các món có lượng calo ít hơn hoặc bằng 500.


Mike Repole và Anthony Leone- 
hai nhân vật chủ chốt của Energy Kitchen

Tuy nhiên, phương pháp thực hiện của họ lại khác nhau. Trong khi Energy Kitchen đặt mục tiêu giành được thị phần từ các nhà hàng thức ăn nhanh và các cửa hàng thức ăn đường phố thông qua một chương trình nhượng quyền trên toàn quốc, Seasons 52 lại sở hữu các cửa hàng và nhắm đến mục tiêu là những khách hàng sành ăn. Thương hiệu nào sẽ thắng thế? 

Energy Kitchen - ăn nhanh mà tốt cho sức khỏe

Một suất ăn tại nhà hàng Seasons 52

Anthony Leone là giám đốc điều hành nhà hàng Energy Kitchen. Khi Leone đi công tác ở Manhattan, ông rất  mong có một bữa ăn ngon - một bữa ăn vừa nhanh vừa có lợi cho sức khỏe từ một nhà hàng trung bình của New York. Nhưng đó là một mong muốn khó thực hiện. "Nếu bạn đi vào một nhà hàng và gọi món trứng ốp lết, điều đầu tiên họ làm là đổ ngập dầu trong chảo. Do vậy, tôi luôn muốn xây dựng một nhà hàng chuyên phục vụ những món ăn vừa ngon, vừa nhanh mà vẫn có lợi cho sức khỏe", Leone  chia sẻ.

Giải pháp của Leone là thành lập chuỗi nhà hàng Energy Kitchen, được ra mắt vào năm 2003, nơi phục vụ những món ăn có lượng calo dưới 500, với các món hấp hoặc nướng. Một đặc điểm nữa trong nhà hàng này là không phục vụ nước sô-đa. "Khi đến với nhà hàng của chúng tôi, bạn sẽ được thưởng thức những món ăn nhanh mà không phải lo ngại về cân nặng của mình. Không có sự cám dỗ trong nhà hàng của chúng tôi".

Kể từ đó, các món pho mát bò rừng bizon, khoai lang trộn và gà Thái của Energy Kitchen đã được người dân New York đón nhận nhiệt tình. 

Mới đây, Repole  đã đầu tư vào 10 nhà hàng Energy Kitchen. Tất cả các nhà hàng này được đặt tại New York và New Jersey. Repole đang hướng tới mục tiêu mở rộng hệ thống nhà hàng lên con số 1.000 trên phạm vi toàn quốc trong vòng một thập kỷ. Năm nay, Repole đặt kế hoạch mở thêm 15 đến 25 đơn vị nhà hàng trên bờ biển Đông, bao gồm bốn nhà hàng ở Boston. 

Repole  ý thức rằng thị trường nguyên liệu cho Energy Kitchen không lớn. Tuy nhiên, ông tin tưởng rằng thị hiếu của người Mỹ đang thay đổi. Đó là quá trình giống như khi ông phát triển VitaminWater. 

"Năm 1999, khi tôi giới thiệu VitaminWater, mọi người nhìn tôi lạ lẫm như thể tôi là một người có hai đầu. Sản phẩm này đã không được đón nhận vào thời điểm đó", ông nói. "Sau đó, chúng tôi bắt đầu một chiến lược tập trung vào thị trường của một số đô thị như New York, Miami, Philly, Boston, DC, San Diego, San Francisco. Chúng tôi nhận thức rằng mình không thể tăng trưởng tức thì. Energy Kitchen có sẵn sàng trở thành một hệ thống trên toàn quốc ngay trong  hôm nay hay không?  Có lẽ là không? Tôi nghĩ rằng chúng tôi chỉ có thể xây dựng được 1.000 cửa hàng trong vòng 10 năm. Cần phải có thời gian để thay đổi xu hướng tiêu dùng của khách hàng". 

Seasons 52 - nhà hàng dành cho khách sành ăn

 Món tráng miệng tại nhà hàng Energy Kitchen

Năm 2000, một nghiên cứu tiến hành bởi Darden cho thấy người tiêu dùng đang chuyển hướng sang lựa chọn các loại thực phẩm thay thế, lành mạnh hơn các loại thức ăn đầy chất béo tại các nhà hàng như món rau bina nước atisô nhúng nước atisô. Điều này dẫn đến sự ra đời của một mô hình nhà hàng mới - Seasons Darden 52, nơi các món hấp hoặc nướng được phục vụ với mức calo dưới 475, và thực đơn thay đổi hàng quý, thậm chí là hàng tuần, tùy theo mùa.

“Theo lối suy nghĩ cũ thì những thực phẩm tốt cho bạn thường không ngon” Judge cho hay. Năm 2007, Judge  đã mua lại một nhà hàng và tập trung phát triển theo hướng riêng của mình. Từ nhà hàng thử nghiệm đó, ông đã đầu tư và phát triển thành chuỗi nhà hàng Seasons 52.  Đến nay, Seasons 52 đã có mặt tại nhiều nơi, từ các khu kiểm tra đặt tại bang Florida và Atlanta đến bang New Jersey và Pennsylvania, California và Illinois. 

Seasons 52 có một cách tiếp cận khách hàng hoàn toàn khác để đạt được mục tiêu tăng trưởng và trên thực tế đã tăng trưởng vượt quá mong đợi tại cả chín địa điểm đặt nhà hàng.  

Chúng tôi hoàn toàn tập trung kinh doanh theo thời vụ, và chúng tôi có khả năng để mua những nguyên liệu tốt nhất bởi vì chúng tôi có lợi thế về tài chính mà người khác không có ", ông Judge chia sẻ. Bếp trưởng Clifford Pleau và trưởng bộ phận bar George Miliotes, những người đến từ Disney World's California Grill, có khả năng làm hài lòng ngay cả những khách hàng khó tính nhất. "Chúng tôi tập trung vào đối tượng khách hàng sành ăn, những người luôn muốn khám phá các món ăn độc đáo và lạ miệng. Tất nhiên, chúng tôi đảm bảo rằng những món ăn đó hoàn toàn có lợi cho sức khỏe". 

Tristano thực sự ấn tượng về Seasons 52 bởi nhà hàng này hướng đến phục vụ cho những người muốn thưởng thức ẩm thực chứ không phải cho những người muốn ăn nhanh.

"Nhiều nhà hàng cũng phục vụ các món ăn theo mùa hoặc theo truyền thống của địa phương, có hàm lượng calo thấp nhưng không nhà hàng nào tạo được hương vị đặc trưng cho riêng mình", ông nói. "Seasons 52 đã phát triển một cách bền vững và luôn tập trung vào mục tiêu của mình trong suốt năm năm qua để phát triển và trở thành thương hiệu chính chiếm lĩnh thị trường". 

 Khi các thành phố và các bang bắt đầu đưa ra quy định phải ghi nhãn dinh dưỡng trong thực đơn, Repole nhận thấy có một sự thay đổi lớn trong thói quen ăn uống của người tiêu dùng.  

Thách thức lớn nhất với cả hai thương hiệu là làm cho khách hàng nhận thức được rằng họ nên lựa chọn những bữa ăn lành mạnh với lượng calo phù hợp. Vào đầu năm nay, Applebee tung ra một dòng sản phẩm khai vị chứa 550 calo, và có khả năng kết hợp với nhiều món ăn khác. Nhiều nhà hàng gây ấn tượng bằng cách đơn giản là sắp xếp lại menu để làm nổi bật các món ăn có lượng calo thấp, chẳng hạn như Bakery Corner đã nhóm một danh sách 100 món có lượng calo dưới 600. 

Tuy nhiên, nếu trong thực đơn đặt một món salad tôm và cơm chứa 450 calo bên cạnh món burger chứa 1.000 calo thì vẫn tạo ra rất nhiều cám dỗ đối với khách hàng. Việc cung cấp một thực đơn hoàn toàn ít calo như Energy Kitchen và Seasons 52 là một lợi thế thực sự khác biệt.

Repole chia sẻ: "Chúng tôi muốn cung cấp thực phẩm sạch tới tất cả các khách hàng. Đưa ra một lựa chọn thực phẩm sáng suốt không phải là một xu hướng nhất thời - nó ngày càng được chú ý ở tất cả các nước".



SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Dịch từ Entrepreneur/Học làm giàu)

5 “chiêu” bán hàng hiệu quả qua điện thoại di động

Điện thoại di động giờ đây đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống và đang dần dần trở thành một kênh thương mại phổ biến. Hầu hết mọi người đều sở hữu ít nhất một điện thoại di động, điện thoại thông minh hoặc máy tính bảng. Các tương tác trên thiết bị di động sẽ giúp bạn kết nối chặt chẽ hơn với người tiêu dùng và thúc đẩy quyết định mua hàng.



Điện thoại di động giờ đây đã trở thành một công cụ không thể thiếu trong cuộc sống và đang dần dần trở thành một kênh thương mại phổ biến.




Bước đầu tiên trong quá trình tận dụng lợi thế của các thiết bị di động để bán hàng là xác định mọi hành động, mọi vị trí mà tại đó bạn có thể tiếp cận tương tác với khách hàng tiềm năng như:
• Khách hàng xem quảng cáo trên các phương tiện truyền thông
• Khách hàng ghé thăm cửa hàng
• Khách hàng ghé thăm văn phòng
• Khách hàng tham gia hội nghị , hội thảo
• Khách hàng trò chuyện, trao đổi trực tiếp với nhân viên bán hàng, lãnh đạo công ty
Bạn có thể tận dụng mọi cơ hội để thúc đẩy ý định mua hàng. Sau khi xác định được các hoạt động này, bước tiếp theo là lựa chọn các hoạt động tương tác phù hợp.
Thanh toán trực tuyến
Việc cần làm đầu tiên là tạo điều kiện cho khách mua hàng và thanh toán ngay trên điện thoại di động Phiên bản di động của website chính thức sẽ rất hữu ích cho thương mại di động. Khách hàng sẽ có nhiều cơ hội tiếp cận trang web hơn và có thể mua hàng của bạn ở bất kì đâu, vào bất kì thời điểm nào. Một trở ngại khiến nhiều khách hàng e ngại mua sắm trực tuyến là vấn đề thanh toán. Tuy nhiên, bạn có thể tận dụng sức mạnh của công cụ thanh toán trực tuyến, các ứng dụng thanh toán, quét thẻ trên ĐTDĐ để hỗ trợ khách hàng thanh toán nhanh chóng.
Khuyến mãi
Để kích thích người tiêu dùng mua sắm qua điện thoại, bạn có thể đưa ra các gói khuyến mãi đặc biệt chỉ dành riêng cho khách hàng sử dụng thiết bị di động để mua hàng.
giá trị cộng thêm luôn được khách hàng ưa thích. Ví dụ, bạn có thể gửi thông tin khuyến mãi qua tin nhắn (dưới dạng mã số) để khách hàng sử dụng khi mua hàng. Khi khách hàng dùng mã này, phần mềm sẽ tự động giảm giá sản phẩm.
So sánh giá
Nhiều khách hàng sử dụng smartphone tại các điểm POS để so sánh giá cả để đảm bảo rằng họ mua được hàng với giá tốt nhất. Thay vì để khách hàng tự mình so sánh giá, bạn có thể cung cấp một trang web hoặc tài liệu so sánh giá các sản phẩm của bạn với các sản phẩm khác cùng loại trên thị trường nhằm gia tăng tính cạnh tranh. Bạn có thể tạo điều kiện cho khách hàng quét mã vạch, nhắn tin hoặc truy cập vào website để xem bảng so sánh giá và đánh giá chất lượng hàng hóa. Tuy nhiên, khi bạn đưa ra cung cấp so sánh của riêng mình, hãy đảm bảo mọi thông tin là chính xác và trung thực.
Giữ liên lạc
Nếu bạn không thể thuyết phục khách hàng mua hàng ngay, điều tốt nhất mà bạn có thể làm tiếp theo là cố gắng giảm chi phí tiếp thị đối với khách hàng đó trong tương lai. Vì vậy, việc thu thập thông tin rất quan trọng. Tận dụng mọi cơ hội để duy trì sự quan tâm của khách hàng, giữ liên lạc với họ qua email, fanpage trên Facebook, Twitter…
Chụp ảnh và chia sẻ
Ngay cả khi sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn là không đáp ứng đượcvới chính khách hàng đó, họ vẫn có thể quen biết với những người khác, những khách hàng tiềm năng có nhu cầu đối với sản phẩm, dịch vụ mà bạn cung cấp. Bạn có thể đề nghị người tiêu dùng sử dụng các thiết bị di động để chụp ảnh sản phẩm, các mẫu quảng cáo và chia sẻ nó với bạn bè và những người quan tâm. Bạn có thể đưa ra nhiều giảm giá hay khuyến mãi đặc biệt cho bạn bè hoặc đồng nghiệp để người giới thiệu có thông tin hấp dẫn, thú vị để cung cấp cho bạn bè.



SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Nguồn ENTREPRENEUR/DNSG)

Thứ Ba, 9 tháng 8, 2011

Những chốn ăn chơi cực xa xỉ của giới lắm tiền

Những năm gần đây, số lượng triệu phú, tỷ phú bỗng nở rộ như "nấm mọc sau mưa" tại Ấn Độ.

Vườn quốc gia Kruger ở Nam Phi, resort xinh đẹp St Moritz tại Thụy Sĩ hay bờ biển Amalfi của Italy... là những điểm đến ưa thích của các nhà giàu nước này.
Ngoài những sở thích tậu xe sang, xây biệt thự khủng, giới lắm tiền này còn rất biết cách phô trương sự giàu có của mình khi lựa chọn những tụ điểm ăn chơi cực xa xỉ.
Trong đó, tỷ phú giàu nhất Ấn Độ Mukesh Ambani lại thường xuyên lui tới vườn quốc gia Kruger tại Nam Phi để xả stress. Không khí trong trẻo và phong cảnh tuyệt đẹp nơi đây luôn có sức hút với ông trong nhiều năm qua.



Vườn quốc gia Kruger tại Nam Phi.
Với Vijay Mallya, du thuyền chính là thú vui hàng đầu sau những giờ làm việc căng thẳng. Vi vu trên du thuyền Indian Empress tại vùng biển French Riviera, hay dạo chơi ở hòn đảo xinh đẹp do chính mình sở hữu - Sainte-Marguerite đã trở thành hình tượng quen thuộc của nhà tỷ phú chơi sang này.



Tỷ phú Vijay Mallya thường giải trí bên những chiếc du thuyền hạng sang của mình.
Còn Kumar Mangalam Birla, một người giàu khét tiếng khác của Ấn Độ, lại thường xuyên tĩnh dưỡng tại London và St Moritz, Thụy Sĩ.



London và St Moritz, Thụy Sĩ là điểm đến ưa thích của Kumar Mangalam Birla.
Nổi tiếng là đại gia sở hữu nhiều bất động sản ở Anh, Ấn Độ và một số quốc gia lớn khác trên thế giới, tỷ phú Lakshmi Mittal rất ưa thích nghỉ ngơi trong ngôi nhà ở St Moritz, Thuỵ Sĩ. Điều đặc biệt là mặt trời luôn chiếu rọi trong suốt 322 ngày tại dinh thự siêu sang này.



Tỷ phú Lakshmi Mittal rất chuộng xả hơi trong ngôi nhà ở
 St Moritz, Thuỵ Sĩ.

Tỷ phú Adi Godrej thường xuyên tìm tới Singita Lodge ở Nam Phi và bờ biển Amalfi của Italy để thư giãn đầu óc.



Tỷ phú Adi Godrej thường xuyên tìm tới Singita Lodge ở Nam Phi
và bờ biển Amalfi của Italy.

Anh em nhà Shashi và Ravi Ruia thường xuyên bay tới phía Bắc của nước Pháp để nghỉ ngơi vào dịp cuối tuần.



Phía Bắc nước Pháp là thiên đường nghỉ dưỡng lý tưởng của anh em nhà Shasi và Ravi.

Riêng Chủ tịch tập đoàn Raymond, ông Vijaypat Singhania lại lựa chọn các thành phố lớn trên thế giới, đặc biệt là London để thỏa thú vui mỗi dịp nghỉ ngơi.



London là điểm đưa ưa thích của tỷ phú Vijaypat Singhania.

Chính cách lựa chọn nhuốm chất đại gia này đã cho thấy mức sống siêu xa xỉ của những tỷ phú nổi tiếng bậc nhất Ấn Độ. 



SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Cafef)

Nghệ thuật diễn thuyết



Một trong những sự khác biệt lớn nhất mà con người có được với muôn loài khác, đó là khả năng giao tiếp và năng lực trí não. Chúng ta thường giao tiếp bằng hình ảnh hoặc ngôn ngữ. Ngoài việc giao tiếp với thế giới bên ngoài, chúng ta còn thường xuyên giao tiếp nội tâm tức là giao tiếp với chính bản thân mình.

Để đạt được bất cứ mục đích nào trong cuộc sống, chúng ta không thể sống một mình mà phải luôn tương tác với rất nhiều người khác nữa. Chính vì vậy khả năng trình bày và thuyết phục mọi người đóng một vai trò quan trọng cho thành công của mỗi người. Từ việc một người mẹ thuyết phục con cái ăn uống đến việc thầy cô giáo đứng trên bục giảng dạy dỗ học sinh hay như một người bán hàng muốn thuyết phục người mua hàng, có lúc nào mà chúng ta không cần phải trình bày về một thứ gì đó.

Có rất nhiều cấp độ của giao tiếp như trao đổi, trò chuyện, thuyết trình, giảng dạy, huấn luyện nhưng hình thức giao tiếp đòi hỏi nghệ thuật cao nhất đó chính là “diễn thuyết” hay “nói chuyện trước đám đông”. Một trong những câu chuyện về nghệ thuật diễn thuyết phải nhắc đến trường hợp của Barack Obama. Từ một người vô danh, sau bài diễn thuyết của ông trước Đại hội Đảng Dân chủ năm 2004, sau một đêm, tên của ông đã được nhắc đến trên toàn thế giới như là một trong số những gương mặt chính trị sáng giá nhất nước Mỹ. Và chỉ 4 năm sau cái đêm đó, ông đã bước lên đỉnh cao quyền lực một cách ngoạn mục nhất. Người ta nói đến khả năng thành công của ông là nhờ diễn thuyết giỏi.

Vậy “diễn thuyết” có điều gì thú vị? Làm thế nào để trở thành một nhà diễn thuyết giỏi? Bạn đã bao giờ đi xem ca nhạc? Đó là bạn xem các ca sĩ mà mình yêu thích “diễn thuyết” bằng âm nhạc với những bản nhạc và dàn nhạc cùng hệ thống âm thanh ánh sáng hiện đại. Vì sao bạn lại đi xem ca nhạc? Đó là vì bạn muốn được thay đổi trạng thái, bạn muốn được giải trí để có một tâm trạng vui vẻ hơn nữa. Nhưng nếu bạn thực sự muốn đi nghe một ai đó diễn thuyết, diễn thuyết thực sự, bạn không chỉ thay đổi trạng thái, bạn còn có thể thay đổi nhận thức và thay đổi chính cuộc đời của bạn.

Theo tôi, diễn thuyết là nghệ thuật của nghệ thuật. Nhiều chủ doanh nghiệp, nhiều nhà chính trị, lãnh đạo, các nhà quản lý của chúng ta không hẳn là diễn thuyết giỏi. Hằng ngày các bạn thử chứng kiến trên truyền hình, các cuộc hội thảo…đâu đâu cũng dễ thấy “buồn ngủ”. Thậm chí rất nhiều người đang thành đạt cũng đã nói với tôi rằng họ thực sự “sợ hãi” mỗi khi đứng trước đám đông.

Điều đầu tiên của nghệ thuật diễn thuyết đó chính là sự tự tin. Để có được sự tự tin, bạn cần phải đối mặt với sự sợ hãi, sự rèn luyện về kiến thức, kỹ năng và sự chuẩn bị kỹ càng về rất nhiều phương diện. Là con người, ai cũng đều có sự sợ hãi, sự sợ hãi chính là bản năng của mỗi người. Thường thì chúng ta sợ không được đầy đủ hoặc không được yêu, chúng ta sợ bị từ chối, sợ bị mọi người cười chê và sợ mất thể diện…

Điều thứ hai của nghệ thuật diễn thuyết là bạn phải chọn được cho mình một chủ đề để nói. Tôi đã từng phạm rất nhiều sai lầm trong quá trình rèn luyện trên con đường diễn thuyết, đó là chọn những chủ đề mà người nghe không thích. Mặc dù tôi đã chuẩn bị hoặc luyện tập rất kỹ nhưng khi bước vào diễn thuyết vẫn bị khán giả tẩy chay. Tôi bước xuống khỏi sân khấu với cảm giác ê chề, xấu hổ. Để vượt qua những cảm giác đó và học hỏi từ thất bại tôi luôn cần ít nhất là một tuần. Chủ đề bạn muốn nói phải là chủ đề người nghe muốn nghe, bạn phải đem lại những giá trị và lợi ích nào đó mà người nghe mong đợi.

Điều thứ ba của nghệ thuật diễn thuyết mà tôi nhận thấy là, bạn phải biết cách mở đầu và kết thúc. Cho dù phần nội dung của bạn có thành công đến đâu nhưng nếu bạn không biết cách mở đầu và kết thúc ấn tượng thì bài diễn văn của bạn cũng “vứt đi” mà thôi. Đó là điều tôi đã từng phải trả giá cho đến khi tôi học được điều này, những phút đầu tiên sẽ tạo cho khán giả ấn tượng họ có muốn nghe bạn hay không và những phút cuối cùng sẽ xem họ có nhớ đến bạn hay không.

Điều thứ tư, đó là sự chuẩn bị. Khi bạn đã chọn cho mình được chủ đề, việc chuẩn bị sẽ quyết định thành bại của người diễn giả. Bạn phải chuẩn bị những gì? Người nghe sẽ thích nghe những gì mới mẻ, họ thích nghe quan điểm hay “câu chuyện” của chính bạn chứ không phải sự rao giảng. Chính vì vậy bạn phải là người có kiến thức, sự trải nghiệm, chân thành. Bạn phải chuẩn bị những điều đó thật kỹ. Bạn phải dành nhiều thời gian suy nghĩ và luôn biết cách “thêm thắt” để mở rộng câu chuyện mà bạn muốn trình bày.

Điều thứ năm, đó là năng lực kể chuyện. Ai biết cách kể chuyện hay, người đó sẽ chiếm được trái tim của người nghe. Câu chuyện của bạn cần phải có ý nghĩa. Có thể rất cảm động nhưng cũng có thể rất hài hước, cái đó phụ thuộc vào khả năng riêng của bạn.

Điều thứ sáu, đó là bạn cần phải tạo cho mình một phong cách riêng cho mình. Đừng bắt chước người khác. Tôi rất “dị ứng” với sự bắt chước. Hãy tìm ra cái gì riêng nhất của bạn và cứ thế mà thực hiện.

Cuối cùng tôi muốn chia sẻ với bạn một công thức tối quan trọng: Đó là công thức 7+38+55. 7% những gì bạn tác động đến người nghe đó là nội dung những gì bạn nói. 38% sự ảnh hưởng của bạn là giọng nói của bạn, giọng của bạn thế nào, ngữ điệu thế nào, nhấn nhá ra sao sẽ tác động đến người nghe rất nhiều. 55% còn lại là ngôn ngữ phi ngôn từ: hội trường, nhiệt độ, âm thanh, ánh sáng, môi trường, cách ngồi và ngôn ngữ cơ thể của bạn. Bạn cần phải cử động cơ thể nhiều hơn nhưng nhớ là theo cách của bạn. Đừng “bắt chước” , nếu không ngôn ngữ cơ thể của bạn sẽ kệch cỡm và buồn cười lắm đấy.



SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Học làm giàu)

Thứ Hai, 8 tháng 8, 2011

10 trở ngại trong thuyết phục, đàm phán

Thuyết phục, đàm phán là kỹ năng quan trọng dẫn đến sự thành công đặc biệt là trong kinh doanh. Thuyết phục được xem là nghệ thuật số một mà những người cực kỳ giàu có sở hữu. Brian Tracy cho rằng “ Những người không thể diễn đạt quan điểm của họ hoặc không thể tiếp thị bản thân một cách hiệu quả thường gây được rất ít ảnh hưởng và không được đánh giá cao”. Tại Mỹ đã có một trường mang tên “ Học viện thuyết phục” do Kurt w. Mortensen, đồng thời cũng là tác giả của “ IQ trong nghệ thuật thuyết phục” sáng lập ra.


 Từ kinh nghiệm thực tiễn và sự tổng kết hàng ngàn các bài giảng về nghệ thuật thuyết phục, Kurt w. Mortensen đã chỉ ra 10 trở ngại trong thuyết phục. Những trở ngại mang tính  chủ quan và khách quan giới hạn khả năng thuyế phục thành công của bạn.
Trở ngại 1: Hiệu ứng Wobegon
Tác giả đã chỉ ra “Hiệu ứng Wonbegon” là trở ngại đầu tiên dẫn đến sự thất bại trong thuyết phục. “Hiệu ứng Wonbegon” là thuật ngữ miêu tả xu hướng là hầu hết mọi người đều nhìn nhận bản thân trên mức trung bình. Tác giả của cuốn sách Lake Wonbegon Days (Những ngày ở thị trấn Lake Wonbegon” của mình đã miêu tả một thị trấn nơi “tất cả phụ nữ đều khỏe mạnh, tất cả đàn ông đều đẹp trai và tất cả trẻ em đều thông minh”. Giống như những người trong thị trấn nhỏ kia, chúng ta đều mang trong mình xu hướng nhìn nhận bản thân trên mức trung bình. Một thực tế cho thấy con người thường nhận thấy mình phải che đậy những khuyết điểm để làm cho mọi thứ tốt hơn thực tế. Nguyên nhân Hiệu ứng Wonbegon ảnh hưởng tiêu cực đến khá năng thuyết phục lẫn cuộc sống của chúng ta là vì đôi khi chúng ta tự lừa dối bản thân, không dám đối diện với những hạn chế của mình. Những nhà thuyết phục giỏi có cái nhìn nghiêm khắc về bản thân và đánh giá mọi việc một cách thực tế, cả điều tốt lẫn điều xấu.
“ Con linh cẩu không thể ngửi thấy mùi hôi của chính mình”( Ngạn ngữ Châu Phi)
Trở ngại 2: Bức tường gạch của sự kháng cự
Đây là trở ngại khách quan thuộc về đối tượng nhưng  để phá được bức tường của sự kháng cự lại tùy vào khả năng thuyết phục của bạn. Mọi cố gắng thuyết phục của bạn không được mang tính đe dọa và phải thật tự nhiên. Hãy quên lối phóng đại, tô vẽ đi. Chiến thuật đó càng thức đẩy sự khánh cự từ phía đối tượng. Khi mọi người cảm thấy họ đang phải chịu áp lực, bị ép buộc phải mua hàng hay làm điều gì đó họ không cần hoặc không muốn, họ sẽ cảm thấy khó chịu. Họ cảm thấy chính bạn là người “lôi kéo”, “lừa dối”, “quảng bá” hoặc “ép buộc” họ.
Thực tế cho thấy những nhà thuyết phục xuất sắc nuôi dưỡng giác quan thứ sáu khi đề cập đến khía cạnh “thúc đẩy và lôi kéo” của khả  năng thuyết phục. Bạn khuyến khích mà không lôi kéo, dụ dỗ nhưng không cài bẫy, cảm nhận sau đó dự đoán dựa trên kiến thức, bản năng, kinh nghiệm và những ám hiệu không lời.
Bởi vậy để phá được bức tường gạch kháng cự bạn phải rèn luyện, mài sắc giác quan thứ sau, nắm rõ tâm lý khách hàng, đặt vào hoàn cảnh đối tượng để đưa ra chiến lược thuyết phục hiệu quả.
Trở ngại 3: Suy nghĩ giống như một nhân viên
Hầu hết mọi người đều coi bản thân là nhân viên. Con đường dẫn tới sự thành công thường bị cản trở bởi chúng ta không có khả năng hoàn toàn chịu trách nhiệm về tình huống hiện tại của mình. Nếu bạn cảm thấy không hài lòng về khỏan thu nhập nhưng lại không làm gì để thay đổi nó thì những gì chúng ta nhận được là xứng đáng. Sở hữu công việc của chính mình, làm đúng nhiệm vụ, muốn có những lời khích lệ hay khoản tiền thưởng dựa trên hiệu quả- những mong muốn này thường đồng nghĩa với thu nhập tăng lên. Các chuyên gia thuyết phục thường kiếm lợi nhuận dựa trên hoa hồng mà họ kiếm được là chủ yếu. Vậy hãy bắt đầu cuộc cách mạng trong bạn trước hết là thay đổi trong lối mòn tư duy giống như một nhân viên.
Trở ngại thứ 4: Nói quá nhiều
Là một người hướng ngoại,có tài ăn nói, có khả năng bắt chuyện với bất kỳ ai hoàn toàn là một lợi thế của bạn. Nhưng khi thuyết phục đối tượng bạn cần hạn chế tốc độ nói của mình. Nếu bạn nói quá nhiều, khách hàng sẽ cảm thấy bực mình vì họ nhận thấy bạn thích nghe mình nói hơn là lắng nghe mối quan tâm của người khác. Những nhà thuyết phục giỏi biết lắng nghe nhiều hơn và đặt câu hỏi khiến khan giả tự thuyết phục mình.
Trở ngại 5: Thông tin dồn dập
Có rất nhiều người khi thuyết phục khách hàng  lại cố gắng nhấn mạnh đến thù lao và các khoản hoa hồng. Điều đó không sai nhưng vấn đề ở chỗ: Khán giả của bạn sẽ mua vì lý do của họ và chỉ vì lý do của họ. Họ không quan tâm vì sao bạn thích sản phẩm hay dịch vụ. Khi bạn muốn hướng sự chú ý vào lợi ích của một sản phẩm hay dịch vụ nào đó, tốt nhất là hãy trình bày tất cả các đặc điểm hay lợi ích mà khách hàng tìm kiếm đầu tiên ở sản phẩm của bạn. Hãy để tự khách hàng nói cho bạn biết họ đang tìm kiếm thứ gì và sau đó tập trung cuộc thảo luận của bạn quanh vấn đề chủ chốt đó.
Trở ngại thứ 6: Bị thúc đẩy bởi nỗi tuyệt vọng
Nếu bạn không thoải mái, căng thẳng hay hồi hộp khi thuyết phục thì khách hàng của bạn cũng không thoải mái. Bạn đừng nên đặt mình vào trạng thái: “ Tôi phải thực hiện nhiệm vụ mua bán này”, “Tôi phải làm việc với anh ta hoặc chuyện này sẽ kết thúc”, “Tôi phải đàm phán trong ngày hôm nay nếu không tôi không thể chi trả các hóa đơn”. Sự tuyệt vọng, sợ hại thường mang đến kết quả không mấy tốt đẹp khi thuyết phục.
Trở ngại thứ 7: Nỗi sợ hãi bị phản đối   
Trong nhiều tính huống thuyết phục bạn không tránh khỏi tình huống bị khách hàng phản đối. Chạy trốn khỏi sự phản đối, để nỗi sợ hãi lấn át và làm tê liệt chúng ta không giải quyết được vấn đề gì. Những nhà thuyết phục thông minh thường nghĩ về mặt thực tế của tình huống dựa trên lý trí “ Xét về mặt cá nhân mình không hề bị phê phán, phản đối”. Bạn không nên cảm thấy kém cỏi, bối rối hay tuyệt vọng chỉ vì quan điểm của một ai đó. Khả năng phục hồi sau khi đối mặt với sự phản đối ở bất kỳ mức độ nào cũng là điều cần thiết trong thế giới thuyết phục.
Trở ngại 8: Thiếu sự chuẩn bị
Để thuyết phục được thành công đòi hỏi bạn phải có sự chuẩn bị về nhiều mặt: Hiểu biết đầy đủ về sản phẩm và dịch vụ của bạn cả bên trong và bên ngoài; hiểu khán giả và những nhu cầu, mong muốn của họ;Chuẩn bị dụng cụ thuyết phục giới thiệu cho khán giả lựa chọn và thay thế; Biết lựa chọn cách thuyết trình phù hợp.
Trở ngại 9: Định kiến và giả định
Đôi khi chúng ta đánh giá khách hàng chỉ dựa trên vài thông tin ngắn gọn, trông họ ra sao, hay tệ hơn, không có thông tin đẩy đủ gì hết. Vấn đề ở chỗ, chúng ta nghĩ điều đó trong đầu trước khi cố gắng thuyết phục khách hàng, và kết thúc sự mau bán, đàm phán bởi chúng ta nghĩ mình không thể thuyết phục được họ. Đây là một sai lầm đầu tiên trong thuyết phục. Bởi chúng ta chỉ đánh giá cuốn sách qua trang bìa của nó.
Trở ngại 10: Nắm bắt những kỹ năng kết thúc là phương thuốc thần kỳ
Việc thuyết phục khán giả về một sản phẩm, dịch vụ hay một ý tưởng nào đó diễn ra trong toàn bộ quá trình thuyết phục. Các nghiên cứu chỉ ra rằng việc bạn bắt đầu bài diễn thuyết của mình như thế nào quan trọng hơn nhiều so với việc bạn kết thúc nó
“Chỉ có một cách duy nhất khiến người khác làm bất cứ điều gì. Đó là làm cho bản thân họ muốn làm điều đó”.
Để có sự thành công trong đàm phán, thuyết phục đòi hỏi nhiều yếu tố. Tuy nhiên việc khắc phục những trở ngại trên là thành công đầu tiên để có cuộc đàm phán, thuyết phục hiệu quả

“Hốt bạc” nhờ cảm hứng… từ chiếc quần tất

Người sáng lập Spanx tâm sự về buổi đầu lập nghiệp và những bài học kinh doanh xương máu.

 
Sara Blakely, nhà sáng lập Công ty Spanx

Nghe giọng nói nhẹ nhàng của Sara Blakely khó có ai lại nghĩ rằng cô lại là một doanh nhân có ý chí sắt đá. Bảy năm ròng đi bán máy fax, lắm lúc phải bật khóc vì gặp phải khách hàng khó tính nhưng Blakery luôn kiên trì và tin tưởng rằng một ngày nào đó mình sẽ tạo ra sản phẩm của riêng mình. 

Một ngày năm 1998, khi xỏ thử một chiếc quần dài mỏng trước gương, thấy đằng sau trông khó coi quá, Blakely nảy ra ý định cắt ngắn chiếc quần tất loại ôm bình thường và mặc nó bên trong. Ngắm lại dáng vẻ gọn gàng, thon thả của mình trong chiếc quần mới, Blakely quyết định xin cấp bằng sáng chế cho ý tưởng chiếc quần tạo dáng của mình. Hai năm sau, cô thành lập công ty Spanx (Atlanta) và cho sản xuất hơn 200 loại trang phục ôm dáng, từ quần gel bụng cho bà mẹ sau sinh cho đến đồ bơi và mới đây nhất là các sản phẩm quần áo bó cho đàn ông.  

Ngày nay, Spanx trở thành nhà cung cấp sản phẩm cho gần 10.000 cửa hàng bán lẻ trên khắp thế giới với doanh thu lên tới hàng triệu đô la trong khi số nhân viên không vượt quá 105 người.   

Blakery, 40 tuổi, chia sẻ những bước ngoặt đã dẫn dắt chị đến thành công trong kinh doanh:


 
 
 Sara Blakely với chiếc ba lô đỏ may mắn

Giây phút nảy sinh sáng kiến: Từ lâu rồi tôi đã chuẩn bị tinh thần đến ngày nào đó mình có thể làm chủ doanh nghiệp. Vậy nên giây phút tôi cắt đi phần chân của cái quần tất và nhìn mình mặc nó trong gương thì tôi nhận ra đó là dấu hiệu cơ hội tôi mong chờ bấy lâu đã đến. 

Nền móng của sự kiên cường: Tôi thường nghe những cuốn băng kiểu như “Làm thế nào để trở thành người không bị ràng buộc bởi các giới hạn” của Wayne Dyer. Khi tôi 16 tuổi, tôi chứng kiến cảnh bạn mình bị tai nạn và qua đời. Cũng cùng lúc ấy, cha mẹ tôi ly hôn, và cha tặng tôi sêri băng cassette đó kèm lời nhắn nhủ: “Cha ước đã có ai tặng nó cho cha khi cha ở tuổi con thay vì tự tìm thấy nó ở tuổi 40”. Tôi thuộc lòng cả 10 cuộn băng. Và đó cũng là món quà tôi hay mua tặng những người tôi yêu quý.

Kỷ niệm kinh doanh đầu tiên: Khi lên 7 tuổi, tôi nghĩ ra ý tưởng “những chiếc tất quyến rũ”. Và mẹ đã dẫn tôi đi mua những món đồ trang trí xinh xinh bằng nhựa để mẹ con tôi khâu lên những đôi tất ren trắng rồi tôi đem vào trường bán cho các bạn.

Bài học cuộc sống: Cha khuyến khích chúng tôi thất bại để có thể trưởng thành hơn. Hàng tuần, cha hỏi chúng tôi đã thất bại những gì. Nếu chúng tôi không có gì để nói thì cha sẽ rất thất vọng. Thế nên, từ khi còn nhỏ, tôi đã hiểu rằng thất bại là khi mình không dám đương đầu và không bao giờ được sợ thất bại.

Bí quyết bán hàng qua điện thoại: Hãy pha trò để họ cười. Nếu có thể làm được điều đó, thì bạn sẽ có thêm 15 giây. Tranh thủ 15 giây đó để diễn giải rằng bạn cung cấp sản phẩm phù hợp nhất cho họ. Và quan trọng nhất là tạo sự khác biệt ngay từ những giây đầu tiên tiếp xúc. Khi thành lập Spanx, tôi nghe lời từ chối suốt 2 năm. Nhưng điều đó không làm nản chí. Tôi không có năng khiếu gì đặc biệt, có chăng chỉ là sự kiên trì với mục tiêu của mình.

Điều chỉnh thái độ tức thì: Bài hát Lose Yourself (Hãy thả lỏng mình) của Eminem giúp tôi vực dậy trong những lúc khó khăn hoặc giúp tôi lấy lại tinh thần ngay trước khi thực hiện một bài diễn văn.

Biết thế trước đây tôi đã…  Tôi đáng ra nên phối hợp chặt chẽ hơn với các nhà sản xuất chính ngay từ khi mới bắt đầu. Ngay trong những năm đầu, một trong những nhà sản xuất của tôi bị phá sản và tôi chỉ được báo trước đúng 4 ngày.

Sở thích cá nhân: Tôi cực kỳ mê bò bít-tết Nhật. Nhà hàng ưa thích của tôi là Nakato tại Atlanta. Tôi có thể ghé ăn 3 buổi tối liên tục.

Giây phút “đứng tim”: Khi được phỏng vấn trên đài BBC, người dẫn chương trình hỏi tôi “Spanx có thể giúp gì cho phụ nữ Anh”, tôi trả lời “Spanx sẽ giúp họ giấu những ngấn mỡ và tạo đường nét cho “fanny” (“vòng ba” trong tiếng Mỹ)”. Người dẫn chương trình trợn mắt nhìn tôi trong khi tôi tiếp tục huyên thuyên về “fanny”. Anh ta phải cắt lời tôi và hỏi lại “Chị muốn nói là “bum” (“vòng ba” trong tiếng Anh”. Còn từ “fanny” trong tiếng Anh dùng để chỉ bộ phận sinh dục của phụ nữ”. Thực ra tôi chưa bao giờ dùng từ “fanny” cho mãi đến buổi phỏng vấn đó vì nghĩ rằng nó nghe rất Anh (Cười lớn).

Tôi được truyền cảm hứng từ… những người thành công từ hai bàn tay trắng đã tạo động lực cho tôi. Richard Branson và Oprah không có gì trong tay nhưng đã đạt đến thành quả to lớn bằng cách thức của riêng mình.

 
Sara Blakely và nhà sáng lập tập đoàn Virgin Richard Branson
 tại bữa tiệc khánh thành Quỹ Sara Blakely.

Nổi loạn hay thực tế: tôi nổi loạn nhiều hơn.

Thú tiêu khiển: Trước khi thành lập Spanx, tôi thường ngồi nhiều giờ trên ghế bành và suy nghĩ, tự hỏi mình có thể làm những gì, làm giỏi những gì.

Bùa may mắn: tôi có bùa may mắn là chiếc balô màu đỏ từ thời sinh viên. Tôi đã cùng chiếc balô đó đi qua bao chặng đường gian lao, khổ nhọc, bị từ chối không biết bao nhiêu lần. Tôi từng bị chế giễu vì mang theo chiếc balô cũ này đến những buổi giới thiệu ý tưởng xin tài trợ. Nhưng bây giờ, tại Quỹ Sarah Blakery, nơi chúng tôi hỗ trợ phụ nữ đến trường và thành lập doanh nghiệp, những balô đỏ còn quý hơn món tiền họ nhận được. Balô đỏ là biểu tượng cho tiềm năng của họ.
 
 
 
SÁCH DOANH TRÍ's Blog
(Theo Học làm giàu/ Entrepreneur)