1.TÁC GIẢ: Alan Greenspan
2.NỘI DUNG:
Hẳn là bạn đã biết con người nổi tiếng này! Ông là Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Mỹ 18 năm liền (từ 1987 - 2006), người mà trong cuộc điều trần gần đây, đã bị gán cho lỗi gián tiếp tạo nên cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn tại Mỹ, là tiền đề cho cuộc khủng hoảng kinh tế đang lan rộng trên toàn thế giới hiện nay. Vậy ông đã nói gì trong cuốn sách phát hành ngay thời khắc đó của mình?
Đây gần như là một cuốn tự truyện, song còn hơn thế nữa. Trước hết hãy ngó qua các mục điểm sách online:
"Cuốn sách là dự báo có một không hai của Alan Greenspan về bản chất của thế giới mới (thế giới sau sự kiện 11/9/2001, được chắt lọc từ những trải nghiệm của chính tác giả khi làm việc trên cương vị chỉ huy nền kinh tế toàn cầu, trong thời gian dài và với ảnh hưởng lớn hơn bất cứ nhân vật còn sống nào.
Mở đầu bằng câu chuyện của buổi sáng 11/9/2001, sau đó là những dòng hồi tưởng lại thời thơ ấu, nối tiếp là hành trình cuộc đời đầy dấu ấn của ông trong suốt 18 năm là Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang (1987-2006), một giai đoạn diễn ra sự thay đổi mang tính bước ngoặt mà các bạn sẽ được biết đến trong cuốn sách này.
Ngay sau sự kiện 11/9/2001, trong năm thứ 14 trên cương vị Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang, Alan Greenspan đã tham gia vào một nỗ lực tập thể rất thầm lặng nhằm bảo đảm cho nước Mỹ không rơi vào sự sụp đổ kinh tế, kéo theo sự khủng hoảng của cả thế giới. Chúng ta có lý do để lo sợ về kịch bản tồi tệ nhất: sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào tháng 10/1987, cuộc khủng hoảng thực sự đầu tiên trong thời gian ông giữ cương vị Chủ tịch Fed, diễn ra chỉ vài tuần sau khi ông nhậm chức, đã đẩy nước Mỹ tới gần sử đóng băng hệ thống tài chính và gây ra hoảng loạn thực sự về tài chính. Tuy nhiên, điều đáng nói nhất đối với nền kinh tế sau sự kiện 11/9 là… đã không có cuộc khủng hoảng nào xảy ra. Nguy cơ gây ra một cú sốc lớn đối với hệ thống tài chính đã bị hấp thụ nhanh một cách đáng ngạc nhiên. Ông nghĩ đúng là chúng ta đang sống trong một thế giới mới, không phải vừa mới xảy ra nhưng cũng chưa kết thúc.
Alan Greenspan kể lại câu chuyện cuộc đời ông với ý nghĩ ban đầu là phải trung thực với một giai đoạn lịch sử đáng nhớ mà ông đã trải nghiệm và đóng một vai trò quan trọng. Nhưng một mục tiêu nữa của ông là dẫn dắt người đọc đi theo con đường học hỏi mà ông đã trải qua, qua đó làm cho người đọc nắm bắt được những đánh giá của ông về động lực chủ yếu chi phối các sự kiện thế giới. Trong phần thứ hai của cuốn sách, sau khi đưa chúng ta trở về thế giới thực tại và trang bị cho chúng ta các khái niệm để tiếp tục đi theo phân tích của ông, Tiến sỹ Greenspan bắt đầu một chuyến hành trình tới tương lai của nền kinh tế toàn cầu. Ông đưa ra những nguyên tắc chung của tăng trưởng kinh tế, đào sâu các sự kiện cụ thể về nền tảng của các nước và khu vực chủ chốt của thế giới, đồng thời giải thích xu thế của toàn cầu hoá trong thời gian tới. Được chắt lọc từ kiến thức và trí tuệ tích luỹ cả đời người để đưa ra đánh giá xuất sắc với một thế giới quan mạch lạc, Kỹ nguyên hỗn loạn sẽ trở thành di sản trui thức cá nhân của Alan Greenspan.
Những trích dẫn đặc sắc / Những lời nhận xét đặc biệt về sách
"Cuốn sách này được thể hiện phần nào đó như một câu chuyện trinh thám. Sau sự kiện 11/9, tôi biết, có thể tôi cần thêm bằng chứng, rằng chúng ta đang sống trong một thế giới mới - thế giới của nền kinh tế tư bản toàn cầu có tính linh hoạt, đề kháng, mở và tự điều chỉnh với mức độ lớn hơn nhiều, đồng thời thay đổi nhanh hơn so với thậm chí chỉ một phần tư thế kỷ trước đây...", Alan Greespan nói về tác phẩm của mình.
Những nội dung khác
Alan Greenspan sinh năm 1926 và sống tại khu Đồi Washington, khu lân cận của thành phố New York. Sau khi học chơi kèn clarinet tại trường đào tạo âm nhạc Juilliard và làm nhạc công chuyên nghiệp, ông nhận bằng đại học, cao học và tiến sĩ về kinh tế tại Đại học New York. Năm 1954, ông đồng sáng lập Công ty tư vấn kinh tế Townsend-Greenspan and Co. Từ năm 1974 đến 1977, ông là Chủ tịch Hội đồng Cố vấn Kinh tế dưới thời Tổng thống Gerald Ford. Năm 1987, Tổng thống Ronald Reagan bổ nhiệm ông là Chủ tịch Cục dự trữ Liên bang, vị trí mà ông nắm giữ cho đến khi nghỉ hưu năm 2006."
Trong một cuộc điều trần gần đây trước Thượng viện về trách nhiệm của mình trong cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ Alan Greenspan đã nói ông "bị sốc vì mất niềm tin".
Cuốn hồi ký của Greenspan được chia làm 2 phần khá rõ rệt. Phần thứ nhất như một tự truyện, kể lại sự nghiệp của Greenspan trong đó quan trọng nhất là 18 năm trên ghế chủ tịch FED (1987-2006). Phần thứ hai là những quan niệm và đánh giá của ông về các vấn đề kinh tế chính trị nói chung ở nước Mỹ và thế giới.
Kỷ nguyên hỗn loạn (Tên gốc: The Age of Turbulence) được Alan Greenspan viết sau khi rời nhiệm sở vào năm 2006 và xuất bản vào giữa năm 2007 ở Mỹ.
Đó là thời điểm trước cuộc khủng hoảng tài chính nên đương nhiên toàn bộ cuốn sách không đả động gì đến cuộc khủng hoảng hiện nay. Cũng mãi tới những ngày cuối của năm 2008, bản dịch tiếng Việt mới xuất hiện ở Việt Nam.
Nhưng không vì những lý do trên mà cuộc hồi ký mất đi tính thời sự của nó mà ngược lại, cuộc khủng hoảng lại khiến người đọc tò mò muốn nhìn lại di sản cũng như thế giới quan kinh tế của Greenspan, một thế giới quan mà không ít nhà phân tích cho là đã góp phần tạo ra cuộc khủng hoảng trầm trọng hiện nay.
Bất định và hỗn loạn
"Vai trò của FED là cất bình rượu punch đi ngay khi bữa tiệc bắt đầu sôi động."
Người ta thường nói như vậy về vai trò của FED. Bất kỳ khi nền kinh tế có dấu hiệu tăng trưởng nóng, Greenspan phải sử dụng ngay tới "thanh bảo kiếm" của mình là lãi suất để triệt giảm nguy cơ tăng giá. Nhưng lần này thì có vẻ như bữa tiệc đã sôi động quá mà bình rượu punch vẫn chưa được cất đi.
Vậy nên, gần đây, Greenspan đã không thoái thác mà thừa nhận rằng ông đã "sai một phần". Dành cả cuộc đời để nghiên cứu và suy ngẫm về kinh tế học, nhưng đến thời điểm này, nhà kinh tế học lỗi lạc bỗng cay đắng phát biểu: "Trụ cột quan trọng của cạnh tranh và thị trường tự do đã đổ vỡ. Tôi cũng chưa hiểu rõ toàn bộ sự việc xảy ra như thế nào."
"Cơn sóng thần thế kỷ", cách gọi của Greenspan về cuộc khủng hoảng hiện nay, là "quá sức tưởng tượng của ông."
Greenspan đặt tên cuốn sách của mình là Kỷ nguyên hỗn loạn. Kỷ nguyên ông đã trải qua thực sự là một giai đoạn kinh tế thăng trầm với không ít những lần khủng hoảng và suy thoái. Nhưng tiếc là, Greenspan đã rửa tay gác kiếm trước khi giai đoạn hỗn loạn nhất trong cái kỷ nguyên hỗn loạn ấy bắt đầu.
Nếu như Greenspan tại nhiệm thêm 2 năm nữa, thì cuốn sách có thể sẽ khác đi nhiều, có thể sẽ không còn những lập luận chắc nịch về lý tưởng thị trường tự do cạnh tranh như Greenspan đã viết. Dẫu sao, cuốn sách đồ sộ này vẫn cho thấy ít nhất một điều: Greenspan là một nhà hoạt động thực tiễn dày dặn kinh nghiệm và là một trí tuệ lớn trong thời đại "hỗn loạn" của ông.
Đoạn trích:
"Vào lúc cao trào của sự sụp đổ dot.com, CNBC nghĩ ra mẹo quảng cáo gọi là chỉ số cặp táp, theo đó các máy quay sẽ theo tôi vào các buổi sáng diễn ra các phiên họp của FOMC khi tôi tới Fed. Người ta cho rằng nếu cặp táp của tôi mỏng, tức là tôi không có gì phải bận tâm và nền kinh tế lành mạnh. Nhưng nếu nó chứa đầy thì việc tăng lãi suất có thể xảy ra..."
Có thể thấy rằng Alan Greenspan đã điểm qua hết tất cả các "điểm nóng" của nền kinh tế toàn cầu, cũng như các thời khắc lịch sử của thế giới trong nửa sau thế kỷ XX, lúc mà ông vươn lên trở thành người có sức ảnh hưởng cực kỳ mạnh mẽ lên nền tài chính toàn cầu. Một cuốn sách đáng đọc!
***********
Tên sách: KỶ NGUYÊN HỖN LOẠN - Những cuộc khám phá trong thế giới mới
Tác giả: Alan Greenspan
Nhóm dịch: Nguyễn Hồng Quang, Nguyễn Văn Sảnh, Lê Hồng Vân, Nguyễn Minh Vũ
Phát hành: NXB Trẻ
Giá bìa: 150.000 đ
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
Tags: do the thao,ao bong da,giay bong da,giay the thao,giay da
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phân tích kinh tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Chủ Nhật, 13 tháng 1, 2013
Thứ Ba, 17 tháng 4, 2012
Download sách kinh doanh tổng hợp (33 cuốn)
Download sách kinh doanh tổng hợp (33 cuốn) |
| Các công thức tài chính kế toán, Các giao dịch về chứng khoán, Các hệ số tài chính, Cẩm nang tìm việc, Đánh giá cầu và cung nhân lực Việt Nam, Để kinh doanh hiệu quả hơn, Định hướng tập trung, Giai thoại về Google, Giới thiệu giao dịch liên tục, Giới thiệu tài chính tiền tệCác công thức tài chính kế toán Các giao dịch về chứng khoán Các hệ số tài chính Cẩm nang tìm việc Đánh giá cầu và cung nhân lực Việt Nam Để kinh doanh hiệu quả hơn Định hướng tập trung Giai thoại về Google Giới thiệu giao dịch liên tục Giới thiệu tài chính tiền tệ Gương mặt thế giới hiện đại (P1) Gương mặt thế giới hiện đại (P2) Gương mặt thế giới hiện đại (P3) Gương mặt thế giới hiện đại (P4) Gương mặt thế giới hiện đại (P5) Hình thành một quỹ đầu tư mạo hiểm Học làm người Hỏi đáp về chính sách tài chính Kiến thức cơ bản về chứng khoán và thị trường chứng khoán Luật báo chí Luật giáo dục 2005 Nghệ thuật lãnh đạo Quản trị chất lượng Sách tài chính của Shreve (Sách tiếng anh) Sổ tay chứng khoán Tài liệu chứng khoán Tài liệu phân tích tài chính Tài liệu phân tích tài chính Tài liệu về chứng khoán Thế giới phẳng Tổng quan chứng khoán Tổng quan giải pháp WTO |

Thứ Ba, 20 tháng 3, 2012
VIDEO Bài giảng của tiến sĩ Lê Thẩm Dương FULL
Sau khi một phần bài giảng của TS. Lê Thẩm Dương - Trưởng Khoa Quản trị kinh doanh (Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh) - cho học viên tại Viện Quản trị Kinh doanh FSB (Trường ĐH FPT) được tung lên mạng, TS Dương đã đưa ra giải thích rằng, đó chỉ là buổi nói trò chuyện với tư cách đồng nghiệp nói với đồng nghiệp.
Hai luồng ý kiến chính trái ngược nhau ngay lập tức hình thành, một bên là các nhà mô phạm với những lời lẽ chỉ trích khá nặng nề, một bên là các sinh viên (đã từng theo học hoặc chưa từng theo học thầy Dương) ủng hộ cách giảng bài được đánh giá là gần gũi (dù có hơi suồng sã), dân dã nhưng vô cùng hiệu quả.
Trích 1 từ trong 1 câu, trích 1 câu trong một hoàn cảnh, để riêng ra rồi bình xét có thể dẫn đến một kết luận sai lầm. Cắt một đoạn clip ngắn để mổ xẻ và kết luận về đạo đức, trình độ của một con người cũng gây ra những chỉ trích không đúng, không đáng, nhiều khi là bất công nữa. Để rộng đường dư luận và giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn, MegaFun xin đăng toàn bộ video bài giảng TS. Lê Thẩm Dương:
Trích 1 từ trong 1 câu, trích 1 câu trong một hoàn cảnh, để riêng ra rồi bình xét có thể dẫn đến một kết luận sai lầm. Cắt một đoạn clip ngắn để mổ xẻ và kết luận về đạo đức, trình độ của một con người cũng gây ra những chỉ trích không đúng, không đáng, nhiều khi là bất công nữa. Để rộng đường dư luận và giúp độc giả có cái nhìn toàn diện hơn, MegaFun xin đăng toàn bộ video bài giảng TS. Lê Thẩm Dương:
Từ khóa: Thiết kế website,thiết lế web doanh nghiệp,thiết kế web giá rẻ,á đông,adongsoft,á đông soft,thiết kế web 3 triệu,thiết kế web bán hàng,thiết kế web tin tức,thiết kế web thương mại điện tử,thiết kế web giá tốt
Chủ Nhật, 29 tháng 1, 2012
EBOOK Dịch vụ Logistics
1.TÁC GIẢ: Chưa rõ
2.NỘI DUNG:
+Dịch vụ Logistics
+Giao nhận hàng hóa nhập khẩu
+Các loại vận đơn FBL, HB/L, FCR trong Logistics
I. Fiata Bill of Lading (FBL)
II. House Bill of Lading (HB/L)
III. Forwarder’s Certificate of Receipt (FCR)
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
CTV: Hương Thùy
2.NỘI DUNG:
+Dịch vụ Logistics
+Giao nhận hàng hóa nhập khẩu
+Các loại vận đơn FBL, HB/L, FCR trong Logistics
I. Fiata Bill of Lading (FBL)
II. House Bill of Lading (HB/L)
III. Forwarder’s Certificate of Receipt (FCR)
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
CTV: Hương Thùy
Thứ Ba, 28 tháng 6, 2011
AUDIOBOOK Sự Sụp Đổ Của Đồng Đô-La - Và Phương Pháp Kiếm Lợi Nhuận Từ Nó
1.TÁC GIẢ: James Turk, John Robino
2.NỘI DUNG:
Sự sụp đổ của đồng đô-la: Làm giàu nhờ đầu tư vào VÀNG và các tài sản có giá trị khác
Cuốn sách này, đúng như tên gọi của nó, sẽ mô tả những thay đổi to lớn của hệ thống tài chính toàn cầu và cả cuộc sống của những con người bình thường nữa. Bởi chúng tôi đang trình bày những vấn đề mà bạn chưa từng được nghe trong các bản tin buổi tối hoặc chưa từng đọc trong các tờ nhật báo, ít nhất là vào thời điểm chúng tôi viết cuốn sách này, tức cuối năm 2007. Vì thế chúng tôi luôn chờ đợi để được nghe một câu hỏi rất tự nhiên, rất hợp lý: “Nếu những thứ đáng tuyệt vọng này lại rõ ràng như những gì các ông đang nói thì tại sao không một nhà kinh tế học Harvard hay một cố vấn tổng thống nào nhận ra?”
Có nhiều cuốn sách trở nên lỗi thời ngay tại thời điểm phát hành. Đó chính là điều khiến chúng tôi đắn đo khi bắt tay vào viết cuốn sách này năm 2004: Không phải những điều chúng tôi viết là không đúng mà vì các sự kiện thay đổi quá nhanh khiến độc giả không kịp chuẩn bị để đối phó với hàng loạt vấn đề xảy đến cùng một lúc. Giờ đây ngẫm lại, chúng tôi thấy lẽ ra mình không nên lo lắng như thế. Thực tế cho thấy đồng đô-la Mỹ đang trượt giá trong khi giá vàng ngày càng tăng, và những nhà đầu tư nào làm theo các lời khuyên được trình bày trong cuốn sách này đã gặt hái được nhiều thành tựu. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu diễn ra chậm rãi hơn so với những gì dự đoán trước đó, điều này cho phép độc giả có nhiều thời gian chuẩn bị để đón đầu một trong những cuộc cải tổ kinh tế lớn nhất của thời đại ngày nay: sự chấm dứt của kỷ nguyên tiền pháp định (fiat currency).
Hầu hết những luận điểm mà chúng tôi đưa ra cách đây hai năm không những vẫn còn nguyên giá trị mà càng trở nên hữu ích hơn. Hầu như tất cả các xu hướng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính bi tráng này đều tiếp diễn, khiến cho sự mất cân đối toàn cầu vốn đã lớn, càng trở nên khủng khiếp hơn. Lấy ví dụ về tình trạng nợ nần chống chất của nước Mỹ, ấn bản 2004 của cuốn sách này đã minh họa điều đó bằng một biểu đổ ở trang sau. Xin lưu ý, mãi đến thập niên 1980, tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng nợ của Mỹ luôn song hành, điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với những khoản nợ mới. Khi đó, nước Mỹ là một xã hội hoạt động năng suất và chi tiêu trong phạm vi những gì nó có thể làm ra. Nhưng từ thập niên 1980, nước Mỹ cần đến những khoản nợ ngày càng lớn hơn để tạo ra tài sản mới, và đến năm 2003, biểu đồ đã trở thành bức tranh mô tả hình ảnh một người leo lên vách núi, nhằm ám chỉ tình hình chi tiêu vượt quá khả năng và vay mượn để bù đắp cho các khoản thiếu hụt đó.
Trong ba năm tiếp theo, thay vì nhận biết những rủi ro này và có biện pháp khắc phục, nước Mỹ lại tiếp tục vay mượn nhiều hơn bao giờ hết. Mặc dù biểu đồ sau đã được cập nhật và thoạt nhìn cũng ít nhiều giống với biểu đồ trước, nhưng hãy chú ý là các tỷ lệ đã thay đổi. Tỷ lệ nợ bình quân của một người Mỹ đã tăng từ mức chưa từng có tiền lệ là 130.000 đô-la lên mức hoàn toàn không thể kiểm soát được là 150.000 đô-la, tức 600.000 đô-la cho một gia đình bốn người. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở hầu như mọi xu hướng khác nếu chúng tôi quay ngược lại so sánh với năm 2004. Thâm hụt thương mại ngày càng lớn, nguồn cung tiền phát triển ngày càng nhanh, tỷ trọng hàng ngoại nhập tăng hơn hai lần và chi phí cho cuộc chiến tranh Iraq cũng như cho các cam kết với nước ngoài đang leo thang. Giờ đây, cả thế giới đều thấy được điều gì đang diễn ra. Năm 2006, bong bóng nhà đất vỡ tung. Năm 2007, thị trường nợ chứng khoán hóa (securitized debt market) cũng nổ tung. Và khi điều này được viết ra vào tháng 11/2004 thì giá trị của đồng đô-la đã giảm đến mức thấp kỷ lục so với hầu hết các đồng tiền khác, trong khi vàng, một loại tiền mà các máy in tiền của chính phủ không thể tạo ra được, lại đang trải qua giai đoạn tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1980.
Trước tình hình đó, các đối tác thương mại của Mỹ chủ động tìm kiếm cách “đa dạng hóa” nguồn dự trữ ngoại hối của mình chứ không chỉ có đồng đô-la như trước đây. Nói tóm lại, kịch bản đã được dựng sẵn, không chỉ cho sự suy giảm tiếp theo của đồng đô-la mà cho cả sự sụp đổ của đồng tiền này. Điều đó có nghĩa là sự xáo trộn cũng như các cơ hội kiếm lời trong những năm qua chỉ là bước khởi đầu cho những gì sắp xảy đến. Tuy nhiên, không phải chỉ có đồng đô-la sắp trở thành phế liệu. Vấn đề thực sự không nằm ở khả năng quản lý yếu kém của nền kinh tế Mỹ mà là cả một hệ thống quan điểm về tiền pháp định. Đơn cử một ví dụ, nếu như các chính trị gia có quyền in tiền để mua các lá phiếu, họ sẵn sàng làm thế. Chính việc thiếu nghiêm khắc trong quản lý tiền tệ đã dẫn đến tình trạng lạm cung tiền, làm cho giá trị của đồng tiền liên tục giảm sút cho đến khi không còn người dân nào hy vọng về nó nữa. Trong quá khứ, điều này chỉ xảy đến với từng quốc gia riêng lẻ nhưng ngày nay, nó đang diễn ra ở khắp mọi nơi mà nạn nhân đầu tiên phải kể đến chính là đồng tiền đang thống thị thế giới, đồng đô-la. Và kết quả tất yếu là trong vài năm tiếp theo, cả thế giới sẽ phát hiện ra rằng các loại tiền pháp định, tức là tiền do chính phủ phát hành và quản lý mà không có cơ sở bảo chứng đầy đủ, là một sai lầm, và sẽ đồng loạt từ bỏ chúng. Vì thế, chúng ta vẫn còn cơ hội kiếm lời từ cuộc khủng hoảng tiền tệ sắp tới. Trên thực tế, hành trình này chỉ mới bắt đầu. Đôi nét về cuốn sách: Khi cuốn sách này được cập nhật vào tháng 11 năm 2007 thì các thị trường tài chính đang bị kìm hãm bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng mà khởi đầu là sự sụp đổ của thị trường cho vay thế chấp của Mỹ và đang lan rộng đến hầu hết mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn cầu. Tài chính cấu trúc lớn/nhóm các nhà đầu cơ vay nợ thống lĩnh giới tài chính đã phát hiện ra rằng trái phiếu bảo chứng và các tài sản hiếm khác phụ thuộc vào nợ vay thế chấp (mortgage debt), vào khả năng thanh toán của ngân hàng hay tính ổn định của tỷ giá hối đoái hiện đang có giá thấp hơn rất nhiều so với dự đoán ban đầu. Còn những tổ chức nào đứng ra kinh doanh vay nợ để mua các loại tài sản ấy đã bắt đầu hứng chịu hậu quả. Các khoản thua lỗ khổng lồ trên thị trường cho vay thế chấp và những tài sản gá nợ khác mà các ngân hàng và tổ chức khác đã báo cáo trong những tháng gần đây chính là điềm báo cho những khó khăn còn tồi tệ hơn ở phía trước. Nhìn chung, đối với những gì sắp xảy đến, người ta không thể nói chi tiết mà chỉ có thể dự đoán một cách tổng quát (rằng đồng đô-la và hầu hết các loại tiền pháp định khác sẽ rớt giá thê thảm), chúng tôi muốn xem cuốn sách này như một công cụ phân tích tổng quát chủ yếu dựa trên phiên bản gốc của nó, chỉ thay đổi một vài số liệu của năm 2003 bằng các số liệu mới hơn của năm 2006, 2007. Nếu bạn muốn tiếp tục theo dõi tin tức thời sự với đầy đủ tên gọi, ngày tháng và phân tích về cuộc khủng hoảng tài chính này, hãy vào trang web của chúng tôi: www.goldmoney.com và www.dollarcollapse.com.
Trong quá trình thực hiện cuốn sách này, chúng tôi đã đưa ra một vài lựa chọn cần được giải thích. Để biết giá vàng và đô-la sẽ đi đâu, chúng ta cần nắm được quá trình biến động của chúng, vì thế chúng tôi đã trình bày một vài điểm quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Tuy nhiên, đánh giá một chủ đề rộng lớn như thế không phải là mục đích của cuốn sách này. Có nhiều vấn đề được nhắc đến nhưng không được giải thích cặn kẽ (chẳng hạn như chúng tôi sẽ không giải thích về tình trạng hỗn loạn tiền tệ sau Cách mạng Pháp). Tuy nhiên, để giúp độc giả nghiên cứu thêm, chúng tôi đã dành ra chương 22 với tên gọi “Thông tin hữu ích” để liệt kê tên một số các tác phẩm lớn trong lĩnh vực này. Về một số khía cạnh hiện tại của đồng đô-la và vàng, chúng tôi có chút đối lập về quan điểm vì James không chỉ là tác giả cuốn sách này mà còn là người tham dự. Cho nên trong những chương liên quan, chúng tôi sẽ thay thế cách xưng hô “chúng tôi” bằng “James”, xem đó như một người thứ ba. Trong quá trình tổng hợp bối cảnh đồng đô-la sụp đổ, chúng tôi thỉnh thoảng gặp phải những vấn đề và dù không thật sự cần thiết cho nội dung cuốn sách này và hơi có tính chuyên môn nhưng chúng giúp hiểu rõ hơn hiện trạng của sự việc. Vì thế, chúng tôi sẽ trình bày một số chủ đề như thế dưới dạng cột/khung phụ. Và có hai vần đề dù ít được sử dụng đến nhưng chúng tôi nghĩ cũng nên trình bày. Đó là: Tỉ giá hối đoái của vàng.Thông thường, khi vàng được nhắc đến trên các cổng thông tin tài chính, người ta thường đề cập đến “giá” của nó. Việc làm này không đúng bởi vàng không phải là hàng hóa thông thường như dầu hay trứng. Vàng chính là tiền. Tục ngữ Trung Hoa có câu "trí khôn bắt đầu bằng việc gọi sự vật đúng với tên gọi của nó." Chúng ta không bao giờ nói về “giá” của đồng yên hay đồng euro mà thay vào đó, chúng ta thảo luận về tỉ giá hối đoái của chúng, cho nên trong cuốn sách này, chúng tôi cũng làm như thế đối với vàng, ví dụ “Tỷ giá hối đoái của vàng ngày 31/12 là $410 một ounce.” Ounce hay là gram. Ở Mỹ, troy ounce là đơn vị đo lường phổ biến nhất của vàng.
Tuy nhiên, quy ước này là một sự kế thừa lịch sử của Đế chế Anh, một đế chế mà bản thân vàng và tiêu chuẩn vàng đóng vai trò trung tâm. Sử gia người Anh, Niall Ferguson nhận xét: “Đế chế Anh đã chấm dứt từ lâu, chỉ có những thứ linh tinh vô giá trị là vẫn còn tồn tại.” Và chúng tôi tin rằng, một trong những thứ linh tinh vô giá trị đó chính là thói quen của người Mỹ khi quy trọng lượng vàng về đơn vị troy ounce. Ngày nay, gần như toàn thế giới và kể cả Vương quốc Anh đều sử dụng hệ thống đo lường mét và theo đó, trọng lượng vàng được tính theo đơn vị gram, 1 gram bằng khoảng 1/31 troy ounce (chính xác là 1 ounce bằng 31.1034 gram). Vì thế, một mặt, chúng tôi giữ lại cách ghi theo đơn vị troy ounce để tránh sự nhầm lẫn, mặt khác, chúng tôi cũng quy ra đơn vị đo lường tương đương là “gram vàng” (gold gram: gg), ví dụ như “400 đô-la/oz. (12,86 đô-la/gram vàng).” .
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
2.NỘI DUNG:
Sự sụp đổ của đồng Đô-la và phương pháp tìm kiếm lợi nhuận từ Nó là một cuốn sách không thể bỏ qua của mọi người và mọi nhà đầu tư.
Trong cuốn sách này, James Turk và John Rubino sẽ chỉ cho các nhà đầu tư cách duy trí và làm tăng giá trị tài sản cho mình bằng việc đầu tư vào tiền vàng, cổ phiếu công ty khai thác vàng, và các loại tiền điện tử dựa trên vàng. Hai bậc thầy tài chính này còn phác họa lợi nhuận tiềm năng cũng như rủi ro đi kèm; cách đưa vàng vào danh mục đầu tư tài chính; và chỉ ra những mặt lợi và bất lợi của việc mua cổ phiếu từ những quỹ đầu tư vào cổ phiếu công ty khai thác vàng.
Sự mất giá của đồng Đô-la đã làm tổn hại cho hàng triệu người Mỹ: giá trị thực sự của thu nhập cố định đã giảm; thị trường cổ phiếu một lần nữa lại được đánh giá quá cao so với thực tế; và trái phiếu – vốn gắn với đồng đô-la ngày càng mất giá đang đi đến một kết cục tồi tệ. Được viết với phong cách rõ ràng và hết sức thực tiễn, cuốn Sự sụp đổ của đồng đô-la và cách tìm kiếm lợi nhuận từ nó sẽ giúp độc giả thấy được vì sao đầu tư vàng lúc này là cách an toàn nhất để đạt được sự thịnh vượng trong tương lai.
James Turk, chuyên gia phân tích vàng hàng đầu kiêm nhà sáng lập của GoldMoney.com và john Robino, biên tập của trang web DollarCollapse.com, sẽ giới thiệu các chiến thuật đầu tư vào tiền vàng, cổ phiếu vàng, các loại tiền điện tử tính theo vàng và những tài sản giá trị khác nhằm tạo ra một danh mục đầu tư có lãi.Trong cuốn sách này, James Turk và John Rubino sẽ chỉ cho các nhà đầu tư cách duy trí và làm tăng giá trị tài sản cho mình bằng việc đầu tư vào tiền vàng, cổ phiếu công ty khai thác vàng, và các loại tiền điện tử dựa trên vàng. Hai bậc thầy tài chính này còn phác họa lợi nhuận tiềm năng cũng như rủi ro đi kèm; cách đưa vàng vào danh mục đầu tư tài chính; và chỉ ra những mặt lợi và bất lợi của việc mua cổ phiếu từ những quỹ đầu tư vào cổ phiếu công ty khai thác vàng.
Sự mất giá của đồng Đô-la đã làm tổn hại cho hàng triệu người Mỹ: giá trị thực sự của thu nhập cố định đã giảm; thị trường cổ phiếu một lần nữa lại được đánh giá quá cao so với thực tế; và trái phiếu – vốn gắn với đồng đô-la ngày càng mất giá đang đi đến một kết cục tồi tệ. Được viết với phong cách rõ ràng và hết sức thực tiễn, cuốn Sự sụp đổ của đồng đô-la và cách tìm kiếm lợi nhuận từ nó sẽ giúp độc giả thấy được vì sao đầu tư vàng lúc này là cách an toàn nhất để đạt được sự thịnh vượng trong tương lai.
Sự sụp đổ của đồng đô-la: Làm giàu nhờ đầu tư vào VÀNG và các tài sản có giá trị khác
Cuốn sách này, đúng như tên gọi của nó, sẽ mô tả những thay đổi to lớn của hệ thống tài chính toàn cầu và cả cuộc sống của những con người bình thường nữa. Bởi chúng tôi đang trình bày những vấn đề mà bạn chưa từng được nghe trong các bản tin buổi tối hoặc chưa từng đọc trong các tờ nhật báo, ít nhất là vào thời điểm chúng tôi viết cuốn sách này, tức cuối năm 2007. Vì thế chúng tôi luôn chờ đợi để được nghe một câu hỏi rất tự nhiên, rất hợp lý: “Nếu những thứ đáng tuyệt vọng này lại rõ ràng như những gì các ông đang nói thì tại sao không một nhà kinh tế học Harvard hay một cố vấn tổng thống nào nhận ra?”
Có nhiều cuốn sách trở nên lỗi thời ngay tại thời điểm phát hành. Đó chính là điều khiến chúng tôi đắn đo khi bắt tay vào viết cuốn sách này năm 2004: Không phải những điều chúng tôi viết là không đúng mà vì các sự kiện thay đổi quá nhanh khiến độc giả không kịp chuẩn bị để đối phó với hàng loạt vấn đề xảy đến cùng một lúc. Giờ đây ngẫm lại, chúng tôi thấy lẽ ra mình không nên lo lắng như thế. Thực tế cho thấy đồng đô-la Mỹ đang trượt giá trong khi giá vàng ngày càng tăng, và những nhà đầu tư nào làm theo các lời khuyên được trình bày trong cuốn sách này đã gặt hái được nhiều thành tựu. Thế nhưng, cuộc khủng hoảng tiền tệ toàn cầu diễn ra chậm rãi hơn so với những gì dự đoán trước đó, điều này cho phép độc giả có nhiều thời gian chuẩn bị để đón đầu một trong những cuộc cải tổ kinh tế lớn nhất của thời đại ngày nay: sự chấm dứt của kỷ nguyên tiền pháp định (fiat currency).
Hầu hết những luận điểm mà chúng tôi đưa ra cách đây hai năm không những vẫn còn nguyên giá trị mà càng trở nên hữu ích hơn. Hầu như tất cả các xu hướng dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính bi tráng này đều tiếp diễn, khiến cho sự mất cân đối toàn cầu vốn đã lớn, càng trở nên khủng khiếp hơn. Lấy ví dụ về tình trạng nợ nần chống chất của nước Mỹ, ấn bản 2004 của cuốn sách này đã minh họa điều đó bằng một biểu đổ ở trang sau. Xin lưu ý, mãi đến thập niên 1980, tốc độ tăng trưởng GDP và tốc độ tăng nợ của Mỹ luôn song hành, điều này có nghĩa là tăng trưởng kinh tế luôn đi kèm với những khoản nợ mới. Khi đó, nước Mỹ là một xã hội hoạt động năng suất và chi tiêu trong phạm vi những gì nó có thể làm ra. Nhưng từ thập niên 1980, nước Mỹ cần đến những khoản nợ ngày càng lớn hơn để tạo ra tài sản mới, và đến năm 2003, biểu đồ đã trở thành bức tranh mô tả hình ảnh một người leo lên vách núi, nhằm ám chỉ tình hình chi tiêu vượt quá khả năng và vay mượn để bù đắp cho các khoản thiếu hụt đó.
Trong ba năm tiếp theo, thay vì nhận biết những rủi ro này và có biện pháp khắc phục, nước Mỹ lại tiếp tục vay mượn nhiều hơn bao giờ hết. Mặc dù biểu đồ sau đã được cập nhật và thoạt nhìn cũng ít nhiều giống với biểu đồ trước, nhưng hãy chú ý là các tỷ lệ đã thay đổi. Tỷ lệ nợ bình quân của một người Mỹ đã tăng từ mức chưa từng có tiền lệ là 130.000 đô-la lên mức hoàn toàn không thể kiểm soát được là 150.000 đô-la, tức 600.000 đô-la cho một gia đình bốn người. Tình trạng tương tự cũng diễn ra ở hầu như mọi xu hướng khác nếu chúng tôi quay ngược lại so sánh với năm 2004. Thâm hụt thương mại ngày càng lớn, nguồn cung tiền phát triển ngày càng nhanh, tỷ trọng hàng ngoại nhập tăng hơn hai lần và chi phí cho cuộc chiến tranh Iraq cũng như cho các cam kết với nước ngoài đang leo thang. Giờ đây, cả thế giới đều thấy được điều gì đang diễn ra. Năm 2006, bong bóng nhà đất vỡ tung. Năm 2007, thị trường nợ chứng khoán hóa (securitized debt market) cũng nổ tung. Và khi điều này được viết ra vào tháng 11/2004 thì giá trị của đồng đô-la đã giảm đến mức thấp kỷ lục so với hầu hết các đồng tiền khác, trong khi vàng, một loại tiền mà các máy in tiền của chính phủ không thể tạo ra được, lại đang trải qua giai đoạn tăng trưởng cao nhất kể từ năm 1980.
Trước tình hình đó, các đối tác thương mại của Mỹ chủ động tìm kiếm cách “đa dạng hóa” nguồn dự trữ ngoại hối của mình chứ không chỉ có đồng đô-la như trước đây. Nói tóm lại, kịch bản đã được dựng sẵn, không chỉ cho sự suy giảm tiếp theo của đồng đô-la mà cho cả sự sụp đổ của đồng tiền này. Điều đó có nghĩa là sự xáo trộn cũng như các cơ hội kiếm lời trong những năm qua chỉ là bước khởi đầu cho những gì sắp xảy đến. Tuy nhiên, không phải chỉ có đồng đô-la sắp trở thành phế liệu. Vấn đề thực sự không nằm ở khả năng quản lý yếu kém của nền kinh tế Mỹ mà là cả một hệ thống quan điểm về tiền pháp định. Đơn cử một ví dụ, nếu như các chính trị gia có quyền in tiền để mua các lá phiếu, họ sẵn sàng làm thế. Chính việc thiếu nghiêm khắc trong quản lý tiền tệ đã dẫn đến tình trạng lạm cung tiền, làm cho giá trị của đồng tiền liên tục giảm sút cho đến khi không còn người dân nào hy vọng về nó nữa. Trong quá khứ, điều này chỉ xảy đến với từng quốc gia riêng lẻ nhưng ngày nay, nó đang diễn ra ở khắp mọi nơi mà nạn nhân đầu tiên phải kể đến chính là đồng tiền đang thống thị thế giới, đồng đô-la. Và kết quả tất yếu là trong vài năm tiếp theo, cả thế giới sẽ phát hiện ra rằng các loại tiền pháp định, tức là tiền do chính phủ phát hành và quản lý mà không có cơ sở bảo chứng đầy đủ, là một sai lầm, và sẽ đồng loạt từ bỏ chúng. Vì thế, chúng ta vẫn còn cơ hội kiếm lời từ cuộc khủng hoảng tiền tệ sắp tới. Trên thực tế, hành trình này chỉ mới bắt đầu. Đôi nét về cuốn sách: Khi cuốn sách này được cập nhật vào tháng 11 năm 2007 thì các thị trường tài chính đang bị kìm hãm bởi một cuộc khủng hoảng tín dụng mà khởi đầu là sự sụp đổ của thị trường cho vay thế chấp của Mỹ và đang lan rộng đến hầu hết mọi ngóc ngách của nền kinh tế toàn cầu. Tài chính cấu trúc lớn/nhóm các nhà đầu cơ vay nợ thống lĩnh giới tài chính đã phát hiện ra rằng trái phiếu bảo chứng và các tài sản hiếm khác phụ thuộc vào nợ vay thế chấp (mortgage debt), vào khả năng thanh toán của ngân hàng hay tính ổn định của tỷ giá hối đoái hiện đang có giá thấp hơn rất nhiều so với dự đoán ban đầu. Còn những tổ chức nào đứng ra kinh doanh vay nợ để mua các loại tài sản ấy đã bắt đầu hứng chịu hậu quả. Các khoản thua lỗ khổng lồ trên thị trường cho vay thế chấp và những tài sản gá nợ khác mà các ngân hàng và tổ chức khác đã báo cáo trong những tháng gần đây chính là điềm báo cho những khó khăn còn tồi tệ hơn ở phía trước. Nhìn chung, đối với những gì sắp xảy đến, người ta không thể nói chi tiết mà chỉ có thể dự đoán một cách tổng quát (rằng đồng đô-la và hầu hết các loại tiền pháp định khác sẽ rớt giá thê thảm), chúng tôi muốn xem cuốn sách này như một công cụ phân tích tổng quát chủ yếu dựa trên phiên bản gốc của nó, chỉ thay đổi một vài số liệu của năm 2003 bằng các số liệu mới hơn của năm 2006, 2007. Nếu bạn muốn tiếp tục theo dõi tin tức thời sự với đầy đủ tên gọi, ngày tháng và phân tích về cuộc khủng hoảng tài chính này, hãy vào trang web của chúng tôi: www.goldmoney.com và www.dollarcollapse.com.
Trong quá trình thực hiện cuốn sách này, chúng tôi đã đưa ra một vài lựa chọn cần được giải thích. Để biết giá vàng và đô-la sẽ đi đâu, chúng ta cần nắm được quá trình biến động của chúng, vì thế chúng tôi đã trình bày một vài điểm quan trọng trong lịch sử tiền tệ. Tuy nhiên, đánh giá một chủ đề rộng lớn như thế không phải là mục đích của cuốn sách này. Có nhiều vấn đề được nhắc đến nhưng không được giải thích cặn kẽ (chẳng hạn như chúng tôi sẽ không giải thích về tình trạng hỗn loạn tiền tệ sau Cách mạng Pháp). Tuy nhiên, để giúp độc giả nghiên cứu thêm, chúng tôi đã dành ra chương 22 với tên gọi “Thông tin hữu ích” để liệt kê tên một số các tác phẩm lớn trong lĩnh vực này. Về một số khía cạnh hiện tại của đồng đô-la và vàng, chúng tôi có chút đối lập về quan điểm vì James không chỉ là tác giả cuốn sách này mà còn là người tham dự. Cho nên trong những chương liên quan, chúng tôi sẽ thay thế cách xưng hô “chúng tôi” bằng “James”, xem đó như một người thứ ba. Trong quá trình tổng hợp bối cảnh đồng đô-la sụp đổ, chúng tôi thỉnh thoảng gặp phải những vấn đề và dù không thật sự cần thiết cho nội dung cuốn sách này và hơi có tính chuyên môn nhưng chúng giúp hiểu rõ hơn hiện trạng của sự việc. Vì thế, chúng tôi sẽ trình bày một số chủ đề như thế dưới dạng cột/khung phụ. Và có hai vần đề dù ít được sử dụng đến nhưng chúng tôi nghĩ cũng nên trình bày. Đó là: Tỉ giá hối đoái của vàng.Thông thường, khi vàng được nhắc đến trên các cổng thông tin tài chính, người ta thường đề cập đến “giá” của nó. Việc làm này không đúng bởi vàng không phải là hàng hóa thông thường như dầu hay trứng. Vàng chính là tiền. Tục ngữ Trung Hoa có câu "trí khôn bắt đầu bằng việc gọi sự vật đúng với tên gọi của nó." Chúng ta không bao giờ nói về “giá” của đồng yên hay đồng euro mà thay vào đó, chúng ta thảo luận về tỉ giá hối đoái của chúng, cho nên trong cuốn sách này, chúng tôi cũng làm như thế đối với vàng, ví dụ “Tỷ giá hối đoái của vàng ngày 31/12 là $410 một ounce.” Ounce hay là gram. Ở Mỹ, troy ounce là đơn vị đo lường phổ biến nhất của vàng.
Tuy nhiên, quy ước này là một sự kế thừa lịch sử của Đế chế Anh, một đế chế mà bản thân vàng và tiêu chuẩn vàng đóng vai trò trung tâm. Sử gia người Anh, Niall Ferguson nhận xét: “Đế chế Anh đã chấm dứt từ lâu, chỉ có những thứ linh tinh vô giá trị là vẫn còn tồn tại.” Và chúng tôi tin rằng, một trong những thứ linh tinh vô giá trị đó chính là thói quen của người Mỹ khi quy trọng lượng vàng về đơn vị troy ounce. Ngày nay, gần như toàn thế giới và kể cả Vương quốc Anh đều sử dụng hệ thống đo lường mét và theo đó, trọng lượng vàng được tính theo đơn vị gram, 1 gram bằng khoảng 1/31 troy ounce (chính xác là 1 ounce bằng 31.1034 gram). Vì thế, một mặt, chúng tôi giữ lại cách ghi theo đơn vị troy ounce để tránh sự nhầm lẫn, mặt khác, chúng tôi cũng quy ra đơn vị đo lường tương đương là “gram vàng” (gold gram: gg), ví dụ như “400 đô-la/oz. (12,86 đô-la/gram vàng).” .
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
Chủ Nhật, 19 tháng 6, 2011
EBOOK Slide Bài giảng kinh tế vĩ mô
1.TÁC GIẢ: Internet
2.NỘI DUNG:
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
2.NỘI DUNG:
Kinh tế học vĩ mô hay là kinh tế tầm lớn là một phân ngành của kinh tế học chuyên nghiên cứu về đặc điểm, cấu trúc và hành vi của cả một nền kinh tế nói chung. Kinh tế học vĩ mô và kinh tế học vi mô là hai lĩnh vực chung nhất của kinh tế học. Trong khi kinh tế học vi mô chủ yếu nghiên cứu về hành vi của các cá thể đơn lẻ, như công ty và cá nhân người tiêu dùng, kinh tế học vĩ mô lại nghiên cứu các chỉ tiêu cộng hưởng như GDP, tỉ lệ thất nghiệp, và các chỉ số giá cả để hiểu cách hoạt động của cả nền kinh tế.
Kinh tế học vĩ mô là một lĩnh vực tổng quát nhưng có hai khu vực nghiên cứu điển hình:
- nghiên cứu nguyên nhân và hậu quả của biến động ngắn đối với thu nhập quốc gia (còn gọi là chu kỳ kinh tế), và
- nghiên cứu những yếu tố quyết định cho tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các chuyên gia kinh tế học vĩ mô phát triển các mô hình để giải thích mối quan hệ giữa các yếu tố như thu nhập quốc gia, sản lượng, tiêu dùng, thất nghiệp, lạm phát, tiết kiệm, đầu tư, buôn bán đa quốc gia và tài chính đa quốc gia. Các mô hình này và các dự báo do chúng đưa ra được cả chính phủ lẫn các tập đoàn lớn sử dụng để giúp họ phát triển và đánh giá các chính sách kinh tế và các chiến lược quản trị.
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
Thứ Sáu, 29 tháng 4, 2011
EBOOK Chiến lược kinh doanh
1.TÁC GIẢ: Sách DOANH TRÍ's blog sưu tầm
Tập hợp của những cuốn sách,bài báo về chiến lược,chiến thuật kinh doanh:giải quyết vài toán về vốn,nguồn nhân lực,tổ chức,tạo lập hệ thống,bán hàng,marketing và vượt qua khủng hoảng.
Sách DOANH TRÍ's Blog trân trọng
Sách DOANH TRÍ's Blog trân trọng
3.DOWNLOAD:
Pass: sachdoanhtri
Thứ Bảy, 23 tháng 4, 2011
EBOOK Quản lý chiến lược sử dụng Blanced Scorecard
1.TÁC GIẢ: Internet
2.NỘI DUNG:
Quản lý chiến lược sử dụng Balanced Scorecard
Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt và xu thế hội nhập hiện nay, các tổ chức phải đối mặt với rất nhiều rào cản trong việc phát triển các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động. Cái mà doanh nghiệp hiện nay cần là một hệ thống mà có thể cân bằng tính chính xác của các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và định hướng về hiệu quả trong tương lai. Đồng thời, hệ thống này cũng sẽ hỗ trợ tổ chức trong việc áp dụng các chiến lược khác nhau. Thẻ cân bằng điểm (The Balanced Scorecard - BSC) là công cụ có thể giúp giải quyết cả hai vấn đề trên. Bài viết này xin giới thiệu khái niệm về mô hình thẻ cân bằng điểm (BSC), và những khác biệt giữa BSC và các hệ thống khác.
Vậy Balanced Scorecard là gì?
Chúng ta có thể mô tả BSC như là những nỗ lực hệ thống đầu tiên nhằm thiết kế một hệ thống đo lường hiệu quả. Hệ thống này chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, phép đo và những chỉ tiêu rõ ràng. Những phép đo của BSC thể hiện sự cân bằng giữa bốn khía cạnh: Tài chính, khách hàng, quá trình nội bộ, học hỏi và phát triển. Các phép đo được lựa chọn sử dụng cho thẻ điểm là công cụ dành cho người lãnh đạo sử dụng để truyền đạt tới người lao động và các bên liên quan những định hướng về kết quả và hiệu quả hoạt động mà qua đó tổ chức sẽ đạt được những mục tiêu chiến lược của mình. Tuy nhiên, một khái niệm đơn giản như vậy không nói lên hết mọi điều về BSC, về cơ bản công cụ này cùng một lúc là 03 hệ thống: Hệ thống đo lường, hệ thống quản lý chiến lược và công cụ trao đổi thông tin.
BSC là một hệ thống đo lường:
Như đã đề cập ở trên về những hạn chế của các phép đo hiệu quả tài chính. Những phép đo này cho thấy rất rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng lại không phù hợp với việc nhấn mạnh vào cách thức tạo giá trị thực của ngày hôm nay của Tổ chức - Đó là những tài sản vô hình như kiến thức, mạng lưới các mối quan hệ... Chúng ta có thể gọi các phép đo tài chính là những “chỉ số trễ”. Đó là kết quả của hàng loạt những hành động đã được thực hiện từ trước. BSC bổ sung cho những “chỉ số trễ” này bằng những định hướng hiệu quả kinh tế trong tương lai, hay còn gọi là “chỉ số sớm”. Nhưng những phép đo hiệu quả này (bao gồm cả chỉ số trễ và chỉ số sớm) xuất phát từ chiến lược của tổ chức. Tất cả các phép đo trong BSC được hiểu như là việc làm rõ chiến lược của tổ chức.
Rất nhiều tổ chức đã cố gắng truyền đạt những viễn cảnh và quán triệt các chiến lược, nhưng thường không liên kết được các hoạt động của người lao động với định hướng chiến lược của tổ chức. BSC cho phép tổ chức làm rõ những viễn cảnh và chiến lược của tổ chức bằng cách đưa ra một khuôn khổ mới. Khuôn khổ này cho thấy toàn bộ câu chuyện về chiến lược của tổ chức thông qua các mục tiêu và các phép đo đã được chọn. Thay vì tập trung vào việc kiểm soát các yếu tố tài chính, BSC sử dụng các phép đo như là ngôn ngữ mới để mô tả các yếu tố chính để đạt được chiến lược. Việc sử dụng các phép đo như thế nào rất quan trọng đối với việc đạt được chiến lược. Các mục tiêu đo lường được có ý nghĩa rất quan trọng để biến chiến lược thành hiện thực. BSC vẫn duy trì các phép đo tài chính, nhưng bổ sung thêm 3 khía cạnh rất rõ ràng khác nữa: Khách hàng, các quá trình nội bộ, học hỏi và phát triển.
Khía cạnh khách hàng
Khi lựa chọn những phép đo đối với Khía cạnh về Khách hàng để làm BSC, các tổ chức phải trả lời hai câu hỏi quan trọng: Ai là khách hàng mục tiêu của tổ chức, và cái gì thực sự là giá trị mà chúng ta phục vụ khách hàng? Nghe có vẻ đơn giản, nhưng 2 câu hỏi này đặt ra không ít thách thức cho các tổ chức. Đa số các tổ chức sẽ tuyên bố rằng hiện nay họ đang có những khách hàng mục tiêu, và các hoạt động của họ cho thấy chiến lược của họ là “ Mọi thứ cho mọi khách hàng”. Thực tế cho chúng ta thấy rằng thiếu đi những trọng tâm sẽ làm giảm khả năng của tổ chức trong việc tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Việc xác định những giá trị thích hợp để phục vụ khách hàng cũng gây ra không ít thách thức đối với đa số tổ chức. Nhiều tổ chức sẽ chọn một trong ba quy tắc dẫn đầu thị trường do Treacy và Wiersema đưa ra:
- Đi đầu trong điều hành: Tổ chức theo đuổi mục tiêu này thường tập trung vào giá thấp, sự thuận tiện, và thường là không kiểu cách. Wal-Mart là công ty điển hình về việc đi đầu trong điều hành.
- Dẫn đầu về sản phẩm: Các công ty dẫn đầu về sản phẩm thường theo đuổi việc phát triển sản phẩm mang nét đặc trưng của công ty. Họ luôn cố gắng để đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất. Nike có thể là một ví dụ về dẫn đầu sản phẩm đối với mặt hàng thể thao.
- Sự thân mật của khách hàng: Làm tất cả những gì có thể để cung cấp giải pháp đối với nhu cầu từng khách hàng riêng lẻ sẽ giúp cho công ty giành được sự yêu mến của khách hàng. Những công ty này thường không quan tâm đến những giao dịch một lần với khách hàng, mà họ chú trọng đến mối quan hệ lâu dài với khách hàng thông qua những kiến thức sâu sắc của họ về nhu cầu của khách hàng. Trong ngành công nghiệp bán lẻ, Nordstrom là một công ty mẫu mực trong việc có được sự quý mến của khách hàng.
Cho dù tổ chức lựa chọn bất kỳ quy tắc nào trong ba quy tắc trên, Khía cạnh về khách hàng ngày nay thường sử dụng các phép đo như: Sự thỏa mãn của khách hàng, lòng trung thành của khách hàng, thị phần và số lượng khách hàng mới. Cũng không kém phần quan trọng, tổ chức phải phát triển định hướng hiệu quả để thực hiện cải tiến những chỉ số “trễ” để có được thành công về Khía cạnh khách hàng.
Khía cạnh các quá trình nội bộ
Đối với Khía cạnh về khách hàng của thẻ cân bằng điểm (BSC), chúng ta phải xác định các quá trình chính của tổ chức cần thực hiện để thường xuyên gia tăng giá trị cho khách hàng và cuối cùng là các cổ đông. Mỗi một quy tắc được liệt kê ở trên sẽ đòi hỏi hiệu quả hoạt động của mỗi quá trình cụ thể nhằm phục vụ cho khách hàng, và đáp ứng những giá trị của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta trong Khía cạnh này là xác định những quá trình chính đó và phát triển các phép đo tốt nhất có thể để nhờ đó mà phát triển. Để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng các tổ chức hoàn toàn có thể xác định những quá trình nội bộ mới, chứ không chỉ tập trung nỗ lực vào việc thực hiện những cải tiến nhỏ đối với những quá trình hiện tại của tổ chức. Phát triển sản phẩm, các quá trình chế tạo, sản xuất, giao hàng và các hoạt động sau bán hàng có thể được xem đến trong Khía cạnh này.
Khía cạnh học hỏi và phát triển
Các tổ chức mong muốn đạt được những kết quả tốt cho Khía cạnh các quá trình nội bộ, khách hàng. Vậy những kết quả đó từ đâu mà có? Những phép đo trong Khía cạnh học hỏi và phát triển để thực hiện BSC thực sự là những hỗ trợ cho việc đạt được kết quả ở những Khía cạnh khác. Về bản chất, những phép đo này là nền tảng để xây dựng nên “ngôi nhà Balance Scorecard ”. Khi mà các tổ chức xác định những phép đo và những sáng kiến trong Khía cạnh khách hàng và các quá trình nội bộ, Tổ chức có thể sẽ thấy ngay những khoảng cách giữa tình trạng hiện tại của tổ chức và những mức độ cần thiết để có thể đạt được mục tiêu về những yếu tố nền tảng như: kỹ năng của người lao động, hệ thống thông tin... Những phép đo mà các tổ chức xác định trong Khía cạnh này sẽ giúp lấp đầy những khoảng cách đó và đảm bảo hiệu quả bền vững trong tương lai.
Cũng như các Khía cạnh khác của BSC, chúng ta hy vọng có được sự kết hợp giữa các phép đo kết quả chính (chỉ số trễ) và định hướng hiệu quả (phép đo sớm) để thể hiện trong Khía cạnh học hỏi và phát triển. Kỹ năng người lao động, sự thỏa mãn của nhân viên, sự sẵn sàng của các nguồn thông tin đều có thể được đưa vào trong Khía cạnh này. Các phép đo chúng ta phát triển ở Khía cạnh này thực sự hỗ trợ cho các phép đo ở các Khía cạnh khác trong hệ thống BSC của công ty. Hãy nghĩ đến nó như là những rễ cây, sẽ nuôi dưỡng các thân cây (các quá trình nội bộ) và rồi đến những cành cây (Những kết quả chuyển giao cho khách hàng) và cuối cùng là những lá cây mọc ra (vấn đề tài chính).
Khía cạnh tài chính
Các phép đo tài chính là yếu tố rất quan trọng của BSC, đặc biệt trong thế giới mà ai cũng quan tâm đến lợi nhuận hiện nay. Các phép đo ở Khía cạnh này cho chúng ta biết chiến lược có được thực hiện để đạt được các kết quả cuối cùng hay không. Chúng ta có thể tập trung toàn bộ nỗ lực và khả năng của chúng ta vào việc cải tiến sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng, giao hàng đúng hạn hoặc hàng loạt vấn đề khác nhưng nếu không chỉ ra những tác động tích cực đến chỉ số tài chính của tổ chức thì những nỗ lực của chúng ta cũng bị giảm bớt giá trị. Thông thường chúng ta quan tâm tới các chỉ số truyền thống như: lợi nhuận, tăng doanh thu, và các giá trị kinh tế khác.
Balanced Scorecard là hệ thống quản lý chiến lược
Đối với rất nhiều tổ chức BSC có xuất xứ từ một công cụ đo lường mà Kaplan và Norton mô tả như là “Hệ thống quản lý chiến lược”. Mục đích ban đầu của hệ thống thẻ điểm (Scorecard) nhằm cân bằng các chỉ số tài chính với định hướng giá trị trong tương lai của công ty, nhưng ngày càng nhiều tổ chức thử nghiệm khái niệm này như là các công cụ để gắn kết các hoạt động ngắn hạn với chiến lược của công ty. Thực hiện theo cách này, BSC làm giảm đi được rất nhiều vấn đề liên quan đến việc áp dụng chiến lược một cách hiệu quả mà chúng ta đã đề cập ở trên. Hãy cùng xem lại các rào cản trong thực hiện chiến lược và xem BSC có tác dụng như thế nào để có thể vượt qua những khó khăn khi áp dụng:
Vượt qua rào cản định hướng bằng cách giải thích các chiến lược
BSC được đưa ra với lý tưởng là chia sẻ những hiểu biết và chuyển chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu, phép đo và những chỉ tiêu cụ thể và thể hiện trong mỗi Khía cạnh của BSC. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu nhóm thực hiện phải xác định cụ thể những gì còn mập mờ, mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức? Ví dụ: “Dịch vụ số một!”; “Mục tiêu hóa khách hàng”... Thông qua quá trình triển khai hệ thống thẻ cân bằng, nhóm thực hiện có thể làm rõ: “Dịch vụ số 1!” có nghĩa là 95% giao hàng đúng hạn. Như vậy toàn thể nhân viên của tổ chức giờ đây có thể tập trung nỗ lực trong các công việc hàng ngày của họ nhằm đạt được “Dịch vụ số 1!”. Khi sử dụng BSC như là cơ sở để giải thích rõ ràng chiến lược, các tổ chức sẽ tạo ra một ngôn ngữ mới để thực hiện đo lường nhằm hướng dẫn tất cả mọi người hướng tới việc đạt được những định hướng đã được công bố.
Phổ biến và truyền đạt Thẻ điểm để vượt qua rào cản về con người
Để thực hiện thành công mọi chiến lược, thì bản thân những chiến lược đó cần phải được hiểu rõ và thực hiện tại mọi cấp của tổ chức. Phổ biến và truyền đạt thẻ cân bằng điểm có nghĩa là đưa chúng đến mọi bộ phận phòng ban của tổ chức và tạo cho người lao động có cơ hội liên hệ giữa công việc hàng ngày của họ với chiến lược của tổ chức. Mọi cấp độ của tổ chức sẽ nhận ra các hoạt động tạo giá trị của họ thông qua mối liên hệ giữa việc triển khai những thẻ điểm của họ với các mục tiêu của cấp cao hơn.
Bằng cách phổ biến và truyền đạt, công ty sẽ tạo ra một luồng thông tin ngược từ dưới xưởng tới ban lãnh đạo điều hành. Một số tổ chức thực hiện phổ biến và truyền đạt từ trên xuống tới cấp cá nhân người lao động. Các cá nhân này sẽ phát triển BSC, trong đó xác định sự đóng góp của cá nhân họ cho cả nhóm nhằm giúp đạt được mục tiêu tổng thể.
Thay vì đưa ra những khuyến khích và khen thưởng khi đạt được những chỉ tiêu tài chính trong ngắn hạn, ngày nay người quản lý có cơ hội trao phần thưởng cho các nhóm hay phòng ban một cách trực tiếp tới những khu vực mà họ đã có những nỗ lực thực hiện. Tất cả người lao động bây giờ có thể tập trung vào định hướng hiệu quả của các giá trị kinh tế trong tương lai và tập trung vào việc đưa ra các quyết định và hành động cần thiết để đạt được kết quả mong muốn.
Chiến lược cung cấp nguồn lực để vượt qua rào cản về nguồn lực
Khi bàn về rào cản này cần lưu ý rằng hầu hết các công ty đều có quá trình hoạch định chiến lược và hoạch định ngân sách riêng biệt. Xây dựng thẻ cân bằng điểm (Balanced Scorecard) cung cấp cơ hội rất tốt để gắn kết các quá trình quan trọng này với nhau. Khi đưa ra Balanced Scorecard các tổ chức không chỉ nghĩ về những mục tiêu chung, chỉ số đo lường, từng chỉ tiêu cụ thể cho bốn khía cạnh mà còn phải xem xét một cách cẩn thận các ý tưởng và kế hoạch hành động sẽ phục vụ cho các mục tiêu của thẻ điểm. Nếu chúng ta đưa ra mục tiêu dài hạn cho các chỉ số đo lường, chúng ta có thể thấy những bước phát triển trên suốt chặng đường đi đến thành công. Nguồn nhân lực và tài chính cần thiết để đạt được các mục tiêu của thẻ điểm phải thực sự tạo nền tảng cho việc xây dựng quá trình dự toán ngân sách hàng năm. Sẽ không còn tình trạng các bộ phận chuyên môn và phòng kinh doanh trình dự toán ngân sách theo kiểu lấy số ngân sách năm trước cộng với một số phần trăm nào đó. Chi phí cần thiết (và lợi nhuận) kết hợp với các mục tiêu cụ thể của thẻ cân bằng điểm phải được nêu rõ ràng trong các văn bản và được đưa ra xem xét. Điều này làm cho kiến thức về quản lý chiến lược gần như trở thành một yêu cầu bắt buộc khi phải thực hiện những lựa chọn khó khăn và phải đạt được sự hài hòa giữa các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn ý tưởng để quyết định hỗ trợ thực hiện hay không những nội dung gì.
Việc xây dựng BSC cũng tạo cho các tổ chức cơ hội rất tốt để kiểm tra một cách nghiêm túc những ý tưởng hiện có trong tổ chức. Nhiều người quản lý có các chương trình và dự án hay thông thường ít nghĩ đến ý nghĩa chiến lược của chúng. Sẽ có nhiều khó khăn khi các ý tưởng trái ngược xuất phát từ các bộ phận chức năng khác nhau. Bộ phận Marketing cố gắng dành được nhiều cơ hội kinh doanh qua chiến dịch marketing rầm rộ, trong khi đó phòng nhân sự chỉ tập trung đưa ra chương trình khuyến khích mới đối với nhân viên bán hàng. Nhóm bán hàng có nên tập trung vào khách hàng mới hay duy trì các mối quan hệ hiện có? Các ý tưởng từ mỗi cấp trong tổ chức và từ từng bộ phận chức năng phải đóng góp vào mục tiêu chung: có mối liên hệ với các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Balanced Scorecard như là tấm gương phản chiếu cho việc xem xét này. Khi bạn xây dựng thẻ cân bằng điểm, bạn phải xem xét tất cả các ý tưởng hiện tại trong tổ chức và quyết định ý tưởng nào thực sự phù hợp với chiến lược của tổ chức và ý tưởng nào chỉ đơn thuần liên quan đến các nguồn lực khó thực hiện và có giá trị. Tiết kiệm nguồn lực rõ ràng là rất tốt, nhưng một điều quan trọng - phải truyền đạt cho mọi người trong tổ chức biết các chỉ số quan trọng và các bước thực hiện để đạt được mục tiêu này.
Chiến lược học hỏi để khắc phục rào cản về quản lý
Ngày nay chúng ta phải đối mặt với sự thay đổi rất nhanh của môi trường kinh doanh, do đó các tổ chức cần làm nhiều hơn là chỉ phân tích những biến động thực tế về các chỉ số tài chính để ra quyết định chiến lược. Thật không may, trong thực tế nhiều nhóm quản lý dành quá nhiều thời gian để thảo luận về những biến động tài chính và tìm kiếm phương pháp khắc phục những “sai lỗi” này. BSC cung cấp các yếu tố cần thiết để thoát khỏi tình trạng này và đưa ra mô hình mới trong đó các kết quả của thẻ điểm trở thành yếu tố đầu vào cho việc xem xét, đặt vấn đề và nghiên cứu về chiến lược.
Balanced Scorecard chuyển chiến lược và tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết chặt chẽ với nhau. Ngay lập tức chúng ta có nhiều thông tin hơn là các dữ liệu tài chính cần phải được xem xét. Khi xem xét toàn bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc đo lường hiệu quả của thẻ điểm mô tả rõ ràng chiến lược đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc đặt câu hỏi liệu kết quả thu được có đưa chúng ta tới gần việc đạt được chiến lược hay không. Chúng ta thấy bất kỳ chiến lược nào chúng ta theo đuổi đều ở dạng giả thuyết hoặc phỏng đoán làm thế nào để có thể thành công. Để chứng minh ý nghĩa của những phép đo, trong thẻ điểm phải liên hệ tất cả các thông tin với nhau để có bức tranh toàn cảnh về chiến lược của tổ chức. Ví dụ, nếu tin tưởng vào việc đầu tư đào tạo cho nhân viên sẽ làm cho thời gian phát triển sản phẩm mới được rút ngắn, thì cần phải kiểm tra giả thuyết qua những phép đo được thể hiện trong thẻ điểm. Nếu tăng việc đào tạo cho nhân viên để đáp ứng mục tiêu nhưng thực tế việc phát triển sản phẩm lại bị chậm, như vậy có lẽ giả định này không phù hợp và chúng ta nên tập trung vào (ví dụ) cải tiến việc truy cập những thông tin quan trọng của nhân viên. Sẽ mất khá nhiều thời gian để thu thập đầy đủ dữ liệu nhằm kiểm tra những mối tương quan này, nên thông thường các nhà quản lý bắt đầu đưa vấn đề giả định theo chiến lược là cải tiến cơ bản về việc ra quyết định dựa trên hoàn toàn những con số tài chính.
Balanced Scorecard là công cụ trao đổi thông tin
Trong phần này chúng ta sẽ đề cập đến sức mạnh của thẻ cân bằng điểm trong việc biến chiến lược thành những hành động và đưa ra thông điệp cho người lao động đó là những gì có thể gọi là trao đổi thông tin.
Những năm gần đây có rất nhiều tài liệu viết về chiến lược quản lý tri thức trong tổ chức. Nét đặc trưng phổ biến của tất cả những hệ thống này là muốn kiến thức tiềm ẩn bên trong của người lao động phải được bộc lộ ra, sẵn sàng trao đổi và chia sẻ. Chúng ta sống trong một kho kiến thức của người lao động. Người lao động, không giống tổ chức là dựa vào tài sản hữu hình của công ty, mà họ dựa vào phương tiện sản xuất: đó là tri thức. Ngày nay thách thức lớn mà công ty phải đối mặt đó là hệ thống hóa và kiểm soát tri thức đó. Peter Drucker đã gọi quản lý tri thức người lao động một cách hiệu quả là một thách thức lớn nhất trong thế kỷ 21. Chia sẻ kết quả của thẻ cân bằng điểm trong tổ chức giúp người lao động có cơ hội thảo luận về những giả định trong chiến lược, học hỏi và rút kinh nghiệm từ những kết quả không mong muốn, trao đổi về những thay đổi cần thiết trong tương lai. Hiểu chiến lược của công ty có thể mở ra những khả năng tiềm tàng, có thể lần đầu tiên được biết tổ chức đang ở đâu và họ sẽ đóng góp như thế nào. Một tổ chức ở nước ngoài đã tiến hành khảo sát nhân viên trước và sau khi xây dựng Balanced Scorecard. Trước khi thực hiện dưới 50% người lao động nhận thức và hiểu về chiến lược của tổ chức. Một năm sau khi thực hiện Balanced Scorecard con số này đã tăng lên 87%. Nếu Bạn tin tưởng vào việc phổ biến rộng rãi thông tin tới người lao động, hãy thử cái mà một số người gọi là “cuốn sách quản lý mở”. Cá nhân tôi tin tưởng rằng sẽ không có công cụ nào tốt hơn BSC giúp các Bạn như là “cuốn sách mở” đó.
Trong nền kinh tế cạnh tranh khốc liệt và xu thế hội nhập hiện nay, các tổ chức phải đối mặt với rất nhiều rào cản trong việc phát triển các hệ thống đo lường hiệu quả hoạt động. Cái mà doanh nghiệp hiện nay cần là một hệ thống mà có thể cân bằng tính chính xác của các chỉ số tài chính đã có trong quá khứ và định hướng về hiệu quả trong tương lai. Đồng thời, hệ thống này cũng sẽ hỗ trợ tổ chức trong việc áp dụng các chiến lược khác nhau. Thẻ cân bằng điểm (The Balanced Scorecard - BSC) là công cụ có thể giúp giải quyết cả hai vấn đề trên. Bài viết này xin giới thiệu khái niệm về mô hình thẻ cân bằng điểm (BSC), và những khác biệt giữa BSC và các hệ thống khác.
Vậy Balanced Scorecard là gì?
Chúng ta có thể mô tả BSC như là những nỗ lực hệ thống đầu tiên nhằm thiết kế một hệ thống đo lường hiệu quả. Hệ thống này chuyển tầm nhìn và chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu cụ thể, phép đo và những chỉ tiêu rõ ràng. Những phép đo của BSC thể hiện sự cân bằng giữa bốn khía cạnh: Tài chính, khách hàng, quá trình nội bộ, học hỏi và phát triển. Các phép đo được lựa chọn sử dụng cho thẻ điểm là công cụ dành cho người lãnh đạo sử dụng để truyền đạt tới người lao động và các bên liên quan những định hướng về kết quả và hiệu quả hoạt động mà qua đó tổ chức sẽ đạt được những mục tiêu chiến lược của mình. Tuy nhiên, một khái niệm đơn giản như vậy không nói lên hết mọi điều về BSC, về cơ bản công cụ này cùng một lúc là 03 hệ thống: Hệ thống đo lường, hệ thống quản lý chiến lược và công cụ trao đổi thông tin.
BSC là một hệ thống đo lường:
Như đã đề cập ở trên về những hạn chế của các phép đo hiệu quả tài chính. Những phép đo này cho thấy rất rõ những gì đã xảy ra trong quá khứ, nhưng lại không phù hợp với việc nhấn mạnh vào cách thức tạo giá trị thực của ngày hôm nay của Tổ chức - Đó là những tài sản vô hình như kiến thức, mạng lưới các mối quan hệ... Chúng ta có thể gọi các phép đo tài chính là những “chỉ số trễ”. Đó là kết quả của hàng loạt những hành động đã được thực hiện từ trước. BSC bổ sung cho những “chỉ số trễ” này bằng những định hướng hiệu quả kinh tế trong tương lai, hay còn gọi là “chỉ số sớm”. Nhưng những phép đo hiệu quả này (bao gồm cả chỉ số trễ và chỉ số sớm) xuất phát từ chiến lược của tổ chức. Tất cả các phép đo trong BSC được hiểu như là việc làm rõ chiến lược của tổ chức.
Rất nhiều tổ chức đã cố gắng truyền đạt những viễn cảnh và quán triệt các chiến lược, nhưng thường không liên kết được các hoạt động của người lao động với định hướng chiến lược của tổ chức. BSC cho phép tổ chức làm rõ những viễn cảnh và chiến lược của tổ chức bằng cách đưa ra một khuôn khổ mới. Khuôn khổ này cho thấy toàn bộ câu chuyện về chiến lược của tổ chức thông qua các mục tiêu và các phép đo đã được chọn. Thay vì tập trung vào việc kiểm soát các yếu tố tài chính, BSC sử dụng các phép đo như là ngôn ngữ mới để mô tả các yếu tố chính để đạt được chiến lược. Việc sử dụng các phép đo như thế nào rất quan trọng đối với việc đạt được chiến lược. Các mục tiêu đo lường được có ý nghĩa rất quan trọng để biến chiến lược thành hiện thực. BSC vẫn duy trì các phép đo tài chính, nhưng bổ sung thêm 3 khía cạnh rất rõ ràng khác nữa: Khách hàng, các quá trình nội bộ, học hỏi và phát triển.
Khía cạnh khách hàng
Khi lựa chọn những phép đo đối với Khía cạnh về Khách hàng để làm BSC, các tổ chức phải trả lời hai câu hỏi quan trọng: Ai là khách hàng mục tiêu của tổ chức, và cái gì thực sự là giá trị mà chúng ta phục vụ khách hàng? Nghe có vẻ đơn giản, nhưng 2 câu hỏi này đặt ra không ít thách thức cho các tổ chức. Đa số các tổ chức sẽ tuyên bố rằng hiện nay họ đang có những khách hàng mục tiêu, và các hoạt động của họ cho thấy chiến lược của họ là “ Mọi thứ cho mọi khách hàng”. Thực tế cho chúng ta thấy rằng thiếu đi những trọng tâm sẽ làm giảm khả năng của tổ chức trong việc tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh. Việc xác định những giá trị thích hợp để phục vụ khách hàng cũng gây ra không ít thách thức đối với đa số tổ chức. Nhiều tổ chức sẽ chọn một trong ba quy tắc dẫn đầu thị trường do Treacy và Wiersema đưa ra:
- Đi đầu trong điều hành: Tổ chức theo đuổi mục tiêu này thường tập trung vào giá thấp, sự thuận tiện, và thường là không kiểu cách. Wal-Mart là công ty điển hình về việc đi đầu trong điều hành.
- Dẫn đầu về sản phẩm: Các công ty dẫn đầu về sản phẩm thường theo đuổi việc phát triển sản phẩm mang nét đặc trưng của công ty. Họ luôn cố gắng để đưa ra thị trường những sản phẩm tốt nhất. Nike có thể là một ví dụ về dẫn đầu sản phẩm đối với mặt hàng thể thao.
- Sự thân mật của khách hàng: Làm tất cả những gì có thể để cung cấp giải pháp đối với nhu cầu từng khách hàng riêng lẻ sẽ giúp cho công ty giành được sự yêu mến của khách hàng. Những công ty này thường không quan tâm đến những giao dịch một lần với khách hàng, mà họ chú trọng đến mối quan hệ lâu dài với khách hàng thông qua những kiến thức sâu sắc của họ về nhu cầu của khách hàng. Trong ngành công nghiệp bán lẻ, Nordstrom là một công ty mẫu mực trong việc có được sự quý mến của khách hàng.
Cho dù tổ chức lựa chọn bất kỳ quy tắc nào trong ba quy tắc trên, Khía cạnh về khách hàng ngày nay thường sử dụng các phép đo như: Sự thỏa mãn của khách hàng, lòng trung thành của khách hàng, thị phần và số lượng khách hàng mới. Cũng không kém phần quan trọng, tổ chức phải phát triển định hướng hiệu quả để thực hiện cải tiến những chỉ số “trễ” để có được thành công về Khía cạnh khách hàng.
Khía cạnh các quá trình nội bộ
Đối với Khía cạnh về khách hàng của thẻ cân bằng điểm (BSC), chúng ta phải xác định các quá trình chính của tổ chức cần thực hiện để thường xuyên gia tăng giá trị cho khách hàng và cuối cùng là các cổ đông. Mỗi một quy tắc được liệt kê ở trên sẽ đòi hỏi hiệu quả hoạt động của mỗi quá trình cụ thể nhằm phục vụ cho khách hàng, và đáp ứng những giá trị của chúng ta. Nhiệm vụ của chúng ta trong Khía cạnh này là xác định những quá trình chính đó và phát triển các phép đo tốt nhất có thể để nhờ đó mà phát triển. Để thỏa mãn nhu cầu của khách hàng các tổ chức hoàn toàn có thể xác định những quá trình nội bộ mới, chứ không chỉ tập trung nỗ lực vào việc thực hiện những cải tiến nhỏ đối với những quá trình hiện tại của tổ chức. Phát triển sản phẩm, các quá trình chế tạo, sản xuất, giao hàng và các hoạt động sau bán hàng có thể được xem đến trong Khía cạnh này.
Khía cạnh học hỏi và phát triển
Các tổ chức mong muốn đạt được những kết quả tốt cho Khía cạnh các quá trình nội bộ, khách hàng. Vậy những kết quả đó từ đâu mà có? Những phép đo trong Khía cạnh học hỏi và phát triển để thực hiện BSC thực sự là những hỗ trợ cho việc đạt được kết quả ở những Khía cạnh khác. Về bản chất, những phép đo này là nền tảng để xây dựng nên “ngôi nhà Balance Scorecard ”. Khi mà các tổ chức xác định những phép đo và những sáng kiến trong Khía cạnh khách hàng và các quá trình nội bộ, Tổ chức có thể sẽ thấy ngay những khoảng cách giữa tình trạng hiện tại của tổ chức và những mức độ cần thiết để có thể đạt được mục tiêu về những yếu tố nền tảng như: kỹ năng của người lao động, hệ thống thông tin... Những phép đo mà các tổ chức xác định trong Khía cạnh này sẽ giúp lấp đầy những khoảng cách đó và đảm bảo hiệu quả bền vững trong tương lai.
Cũng như các Khía cạnh khác của BSC, chúng ta hy vọng có được sự kết hợp giữa các phép đo kết quả chính (chỉ số trễ) và định hướng hiệu quả (phép đo sớm) để thể hiện trong Khía cạnh học hỏi và phát triển. Kỹ năng người lao động, sự thỏa mãn của nhân viên, sự sẵn sàng của các nguồn thông tin đều có thể được đưa vào trong Khía cạnh này. Các phép đo chúng ta phát triển ở Khía cạnh này thực sự hỗ trợ cho các phép đo ở các Khía cạnh khác trong hệ thống BSC của công ty. Hãy nghĩ đến nó như là những rễ cây, sẽ nuôi dưỡng các thân cây (các quá trình nội bộ) và rồi đến những cành cây (Những kết quả chuyển giao cho khách hàng) và cuối cùng là những lá cây mọc ra (vấn đề tài chính).
Khía cạnh tài chính
Các phép đo tài chính là yếu tố rất quan trọng của BSC, đặc biệt trong thế giới mà ai cũng quan tâm đến lợi nhuận hiện nay. Các phép đo ở Khía cạnh này cho chúng ta biết chiến lược có được thực hiện để đạt được các kết quả cuối cùng hay không. Chúng ta có thể tập trung toàn bộ nỗ lực và khả năng của chúng ta vào việc cải tiến sự thỏa mãn của khách hàng, chất lượng, giao hàng đúng hạn hoặc hàng loạt vấn đề khác nhưng nếu không chỉ ra những tác động tích cực đến chỉ số tài chính của tổ chức thì những nỗ lực của chúng ta cũng bị giảm bớt giá trị. Thông thường chúng ta quan tâm tới các chỉ số truyền thống như: lợi nhuận, tăng doanh thu, và các giá trị kinh tế khác.
Balanced Scorecard là hệ thống quản lý chiến lược
Đối với rất nhiều tổ chức BSC có xuất xứ từ một công cụ đo lường mà Kaplan và Norton mô tả như là “Hệ thống quản lý chiến lược”. Mục đích ban đầu của hệ thống thẻ điểm (Scorecard) nhằm cân bằng các chỉ số tài chính với định hướng giá trị trong tương lai của công ty, nhưng ngày càng nhiều tổ chức thử nghiệm khái niệm này như là các công cụ để gắn kết các hoạt động ngắn hạn với chiến lược của công ty. Thực hiện theo cách này, BSC làm giảm đi được rất nhiều vấn đề liên quan đến việc áp dụng chiến lược một cách hiệu quả mà chúng ta đã đề cập ở trên. Hãy cùng xem lại các rào cản trong thực hiện chiến lược và xem BSC có tác dụng như thế nào để có thể vượt qua những khó khăn khi áp dụng:
Vượt qua rào cản định hướng bằng cách giải thích các chiến lược
BSC được đưa ra với lý tưởng là chia sẻ những hiểu biết và chuyển chiến lược của tổ chức thành những mục tiêu, phép đo và những chỉ tiêu cụ thể và thể hiện trong mỗi Khía cạnh của BSC. Việc giải thích định hướng chiến lược yêu cầu nhóm thực hiện phải xác định cụ thể những gì còn mập mờ, mơ hồ trong định hướng chiến lược của tổ chức? Ví dụ: “Dịch vụ số một!”; “Mục tiêu hóa khách hàng”... Thông qua quá trình triển khai hệ thống thẻ cân bằng, nhóm thực hiện có thể làm rõ: “Dịch vụ số 1!” có nghĩa là 95% giao hàng đúng hạn. Như vậy toàn thể nhân viên của tổ chức giờ đây có thể tập trung nỗ lực trong các công việc hàng ngày của họ nhằm đạt được “Dịch vụ số 1!”. Khi sử dụng BSC như là cơ sở để giải thích rõ ràng chiến lược, các tổ chức sẽ tạo ra một ngôn ngữ mới để thực hiện đo lường nhằm hướng dẫn tất cả mọi người hướng tới việc đạt được những định hướng đã được công bố.
Phổ biến và truyền đạt Thẻ điểm để vượt qua rào cản về con người
Để thực hiện thành công mọi chiến lược, thì bản thân những chiến lược đó cần phải được hiểu rõ và thực hiện tại mọi cấp của tổ chức. Phổ biến và truyền đạt thẻ cân bằng điểm có nghĩa là đưa chúng đến mọi bộ phận phòng ban của tổ chức và tạo cho người lao động có cơ hội liên hệ giữa công việc hàng ngày của họ với chiến lược của tổ chức. Mọi cấp độ của tổ chức sẽ nhận ra các hoạt động tạo giá trị của họ thông qua mối liên hệ giữa việc triển khai những thẻ điểm của họ với các mục tiêu của cấp cao hơn.
Bằng cách phổ biến và truyền đạt, công ty sẽ tạo ra một luồng thông tin ngược từ dưới xưởng tới ban lãnh đạo điều hành. Một số tổ chức thực hiện phổ biến và truyền đạt từ trên xuống tới cấp cá nhân người lao động. Các cá nhân này sẽ phát triển BSC, trong đó xác định sự đóng góp của cá nhân họ cho cả nhóm nhằm giúp đạt được mục tiêu tổng thể.
Thay vì đưa ra những khuyến khích và khen thưởng khi đạt được những chỉ tiêu tài chính trong ngắn hạn, ngày nay người quản lý có cơ hội trao phần thưởng cho các nhóm hay phòng ban một cách trực tiếp tới những khu vực mà họ đã có những nỗ lực thực hiện. Tất cả người lao động bây giờ có thể tập trung vào định hướng hiệu quả của các giá trị kinh tế trong tương lai và tập trung vào việc đưa ra các quyết định và hành động cần thiết để đạt được kết quả mong muốn.
Chiến lược cung cấp nguồn lực để vượt qua rào cản về nguồn lực
Khi bàn về rào cản này cần lưu ý rằng hầu hết các công ty đều có quá trình hoạch định chiến lược và hoạch định ngân sách riêng biệt. Xây dựng thẻ cân bằng điểm (Balanced Scorecard) cung cấp cơ hội rất tốt để gắn kết các quá trình quan trọng này với nhau. Khi đưa ra Balanced Scorecard các tổ chức không chỉ nghĩ về những mục tiêu chung, chỉ số đo lường, từng chỉ tiêu cụ thể cho bốn khía cạnh mà còn phải xem xét một cách cẩn thận các ý tưởng và kế hoạch hành động sẽ phục vụ cho các mục tiêu của thẻ điểm. Nếu chúng ta đưa ra mục tiêu dài hạn cho các chỉ số đo lường, chúng ta có thể thấy những bước phát triển trên suốt chặng đường đi đến thành công. Nguồn nhân lực và tài chính cần thiết để đạt được các mục tiêu của thẻ điểm phải thực sự tạo nền tảng cho việc xây dựng quá trình dự toán ngân sách hàng năm. Sẽ không còn tình trạng các bộ phận chuyên môn và phòng kinh doanh trình dự toán ngân sách theo kiểu lấy số ngân sách năm trước cộng với một số phần trăm nào đó. Chi phí cần thiết (và lợi nhuận) kết hợp với các mục tiêu cụ thể của thẻ cân bằng điểm phải được nêu rõ ràng trong các văn bản và được đưa ra xem xét. Điều này làm cho kiến thức về quản lý chiến lược gần như trở thành một yêu cầu bắt buộc khi phải thực hiện những lựa chọn khó khăn và phải đạt được sự hài hòa giữa các yếu tố liên quan đến việc lựa chọn ý tưởng để quyết định hỗ trợ thực hiện hay không những nội dung gì.
Việc xây dựng BSC cũng tạo cho các tổ chức cơ hội rất tốt để kiểm tra một cách nghiêm túc những ý tưởng hiện có trong tổ chức. Nhiều người quản lý có các chương trình và dự án hay thông thường ít nghĩ đến ý nghĩa chiến lược của chúng. Sẽ có nhiều khó khăn khi các ý tưởng trái ngược xuất phát từ các bộ phận chức năng khác nhau. Bộ phận Marketing cố gắng dành được nhiều cơ hội kinh doanh qua chiến dịch marketing rầm rộ, trong khi đó phòng nhân sự chỉ tập trung đưa ra chương trình khuyến khích mới đối với nhân viên bán hàng. Nhóm bán hàng có nên tập trung vào khách hàng mới hay duy trì các mối quan hệ hiện có? Các ý tưởng từ mỗi cấp trong tổ chức và từ từng bộ phận chức năng phải đóng góp vào mục tiêu chung: có mối liên hệ với các mục tiêu chiến lược của tổ chức. Balanced Scorecard như là tấm gương phản chiếu cho việc xem xét này. Khi bạn xây dựng thẻ cân bằng điểm, bạn phải xem xét tất cả các ý tưởng hiện tại trong tổ chức và quyết định ý tưởng nào thực sự phù hợp với chiến lược của tổ chức và ý tưởng nào chỉ đơn thuần liên quan đến các nguồn lực khó thực hiện và có giá trị. Tiết kiệm nguồn lực rõ ràng là rất tốt, nhưng một điều quan trọng - phải truyền đạt cho mọi người trong tổ chức biết các chỉ số quan trọng và các bước thực hiện để đạt được mục tiêu này.
Chiến lược học hỏi để khắc phục rào cản về quản lý
Ngày nay chúng ta phải đối mặt với sự thay đổi rất nhanh của môi trường kinh doanh, do đó các tổ chức cần làm nhiều hơn là chỉ phân tích những biến động thực tế về các chỉ số tài chính để ra quyết định chiến lược. Thật không may, trong thực tế nhiều nhóm quản lý dành quá nhiều thời gian để thảo luận về những biến động tài chính và tìm kiếm phương pháp khắc phục những “sai lỗi” này. BSC cung cấp các yếu tố cần thiết để thoát khỏi tình trạng này và đưa ra mô hình mới trong đó các kết quả của thẻ điểm trở thành yếu tố đầu vào cho việc xem xét, đặt vấn đề và nghiên cứu về chiến lược.
Balanced Scorecard chuyển chiến lược và tầm nhìn thành một loạt các phép đo có liên kết chặt chẽ với nhau. Ngay lập tức chúng ta có nhiều thông tin hơn là các dữ liệu tài chính cần phải được xem xét. Khi xem xét toàn bộ các mối liên hệ mật thiết, kết quả của việc đo lường hiệu quả của thẻ điểm mô tả rõ ràng chiến lược đến từng chi tiết nhỏ và tạo cơ sở cho việc đặt câu hỏi liệu kết quả thu được có đưa chúng ta tới gần việc đạt được chiến lược hay không. Chúng ta thấy bất kỳ chiến lược nào chúng ta theo đuổi đều ở dạng giả thuyết hoặc phỏng đoán làm thế nào để có thể thành công. Để chứng minh ý nghĩa của những phép đo, trong thẻ điểm phải liên hệ tất cả các thông tin với nhau để có bức tranh toàn cảnh về chiến lược của tổ chức. Ví dụ, nếu tin tưởng vào việc đầu tư đào tạo cho nhân viên sẽ làm cho thời gian phát triển sản phẩm mới được rút ngắn, thì cần phải kiểm tra giả thuyết qua những phép đo được thể hiện trong thẻ điểm. Nếu tăng việc đào tạo cho nhân viên để đáp ứng mục tiêu nhưng thực tế việc phát triển sản phẩm lại bị chậm, như vậy có lẽ giả định này không phù hợp và chúng ta nên tập trung vào (ví dụ) cải tiến việc truy cập những thông tin quan trọng của nhân viên. Sẽ mất khá nhiều thời gian để thu thập đầy đủ dữ liệu nhằm kiểm tra những mối tương quan này, nên thông thường các nhà quản lý bắt đầu đưa vấn đề giả định theo chiến lược là cải tiến cơ bản về việc ra quyết định dựa trên hoàn toàn những con số tài chính.
Balanced Scorecard là công cụ trao đổi thông tin
Trong phần này chúng ta sẽ đề cập đến sức mạnh của thẻ cân bằng điểm trong việc biến chiến lược thành những hành động và đưa ra thông điệp cho người lao động đó là những gì có thể gọi là trao đổi thông tin.
Những năm gần đây có rất nhiều tài liệu viết về chiến lược quản lý tri thức trong tổ chức. Nét đặc trưng phổ biến của tất cả những hệ thống này là muốn kiến thức tiềm ẩn bên trong của người lao động phải được bộc lộ ra, sẵn sàng trao đổi và chia sẻ. Chúng ta sống trong một kho kiến thức của người lao động. Người lao động, không giống tổ chức là dựa vào tài sản hữu hình của công ty, mà họ dựa vào phương tiện sản xuất: đó là tri thức. Ngày nay thách thức lớn mà công ty phải đối mặt đó là hệ thống hóa và kiểm soát tri thức đó. Peter Drucker đã gọi quản lý tri thức người lao động một cách hiệu quả là một thách thức lớn nhất trong thế kỷ 21. Chia sẻ kết quả của thẻ cân bằng điểm trong tổ chức giúp người lao động có cơ hội thảo luận về những giả định trong chiến lược, học hỏi và rút kinh nghiệm từ những kết quả không mong muốn, trao đổi về những thay đổi cần thiết trong tương lai. Hiểu chiến lược của công ty có thể mở ra những khả năng tiềm tàng, có thể lần đầu tiên được biết tổ chức đang ở đâu và họ sẽ đóng góp như thế nào. Một tổ chức ở nước ngoài đã tiến hành khảo sát nhân viên trước và sau khi xây dựng Balanced Scorecard. Trước khi thực hiện dưới 50% người lao động nhận thức và hiểu về chiến lược của tổ chức. Một năm sau khi thực hiện Balanced Scorecard con số này đã tăng lên 87%. Nếu Bạn tin tưởng vào việc phổ biến rộng rãi thông tin tới người lao động, hãy thử cái mà một số người gọi là “cuốn sách quản lý mở”. Cá nhân tôi tin tưởng rằng sẽ không có công cụ nào tốt hơn BSC giúp các Bạn như là “cuốn sách mở” đó.
Pass: sachdoanhtri
Thứ Năm, 21 tháng 4, 2011
EBOOK Công cụ theo dõi danh mục dự án
1.TÁC GIẢ: Sách DOANH TRÍ sưu tầm Internet
2.NỘI DUNG:
Mục lục
I. GIỚI THIỆU CÔNG CỤ THEO DÕI DANH MỤC DỰ ÁN ODA (PMT)
Tại sao lại sử dụng Microsoft Access
PMT làm những gì
II. XEM THÔNG TIN DỰ ÁN
Đăng nhập vào PMT
Trang chủ PMT
Giao diện của Trang chủ PMT
Các chức năng của PMT
Xem dữ liệu và thông tin dự án
Thông tin danh mục dự án
Tìm kiếm và sắp xếp
Tìm kiếm
Sắp xếp thông tin
Thông tin một dự án
III. LÀM VIỆC VỚI CÁC CHỨC NĂNG PHÂN TÍCH TỔNG HỢP THÔNG TIN
Các truy vấn
Truy vấn là gì?
Dịch chuyển cột
Ẩn và hiển thị các cột
Ẩn một hoặc nhiều cột
Hiển thị một hoặc nhiều cột
Thay đổi định dạng chữ hiển thị
Thay đổi kiểu phân cách ô và mầu nền
Lọc các bản ghi
Sắp xết cột
Cố định hoặc giải phóng cột
Xuất một truy vấn sang dạng Excel hoặc Word
Báo cáo
Truy cập và Xem báo cáo
Cài đặt trang
In báo cáo
Xuất báo cáo ra các văn bản MS Excel hoặc MS Word
Biểu đồ
Truy cập và xem biểu đồ
Sao lưu biểu đồ sang các văn bản MS Office khác
Đánh giá hiệu quả thực hiện dự án
Truy cập
Thêm Đánh giá mới
Thực hiện đánh giá hiệu quả thực hiện dự án
IV. CẬP NHẬT THÔNG TIN CHO PMT
Điều kiện và cách quản lý các báo cáo AMT
Điều kiện cập nhật AMT
Quản lý các tệp AMT theo Quý
Nhập dữ liệu từ AMT vào PMT
Nhập dữ liệu
Một số câu hỏi thường gặp
Nhập và xuất dữ liệu từ PMT vào PMT
Xuất dữ liệu từ PMT
Nhập dữ liệu vào PMT
V. THIẾT LẬP
Thiết lập kết nối với cơ sở dữ liệu
Thiết lập PMT
Thêm mới hoặc sửa thông tin người dùng
Truy cập vào phần thiết lập người dùng
Thêm người dùng mới
Sửa thông tin hay Xóa người dùng
Thêm mới hoặc Sửa thông tin Nhà tài trợ
Truy cập vào phần thiết lập Nhà tài trợ
Thêm một nhà tài trợ mới
Sửa hay Xóa một nhà tài trợ
Danh sách lựa chọn
Truy cập vào phần thiết lập danh sách lựa chọn
Sửa một danh sách lựa chọn
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
2.NỘI DUNG:
I. GIỚI THIỆU CÔNG CỤ THEO DÕI DANH MỤC DỰ ÁN ODA (PMT)
Tại sao lại sử dụng Microsoft Access
PMT làm những gì
II. XEM THÔNG TIN DỰ ÁN
Đăng nhập vào PMT
Trang chủ PMT
Giao diện của Trang chủ PMT
Các chức năng của PMT
Xem dữ liệu và thông tin dự án
Thông tin danh mục dự án
Tìm kiếm và sắp xếp
Tìm kiếm
Sắp xếp thông tin
Thông tin một dự án
III. LÀM VIỆC VỚI CÁC CHỨC NĂNG PHÂN TÍCH TỔNG HỢP THÔNG TIN
Các truy vấn
Truy vấn là gì?
Dịch chuyển cột
Ẩn và hiển thị các cột
Ẩn một hoặc nhiều cột
Hiển thị một hoặc nhiều cột
Thay đổi định dạng chữ hiển thị
Thay đổi kiểu phân cách ô và mầu nền
Lọc các bản ghi
Sắp xết cột
Cố định hoặc giải phóng cột
Xuất một truy vấn sang dạng Excel hoặc Word
Báo cáo
Truy cập và Xem báo cáo
Cài đặt trang
In báo cáo
Xuất báo cáo ra các văn bản MS Excel hoặc MS Word
Biểu đồ
Truy cập và xem biểu đồ
Sao lưu biểu đồ sang các văn bản MS Office khác
Đánh giá hiệu quả thực hiện dự án
Truy cập
Thêm Đánh giá mới
Thực hiện đánh giá hiệu quả thực hiện dự án
IV. CẬP NHẬT THÔNG TIN CHO PMT
Điều kiện và cách quản lý các báo cáo AMT
Điều kiện cập nhật AMT
Quản lý các tệp AMT theo Quý
Nhập dữ liệu từ AMT vào PMT
Nhập dữ liệu
Một số câu hỏi thường gặp
Nhập và xuất dữ liệu từ PMT vào PMT
Xuất dữ liệu từ PMT
Nhập dữ liệu vào PMT
V. THIẾT LẬP
Thiết lập kết nối với cơ sở dữ liệu
Thiết lập PMT
Thêm mới hoặc sửa thông tin người dùng
Truy cập vào phần thiết lập người dùng
Thêm người dùng mới
Sửa thông tin hay Xóa người dùng
Thêm mới hoặc Sửa thông tin Nhà tài trợ
Truy cập vào phần thiết lập Nhà tài trợ
Thêm một nhà tài trợ mới
Sửa hay Xóa một nhà tài trợ
Danh sách lựa chọn
Truy cập vào phần thiết lập danh sách lựa chọn
Sửa một danh sách lựa chọn
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
EBOOK Top 200: Chiến lược công nghiệp của các doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam
1.TÁC GIẢ: Scott Cheshier và Jago Penrose
Các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam là lớn so với các doanh nghiệp khác ở Việt Nam , nhưng so với quốc tế thì giống các doanh nghiệp vừa và nhỏ hơn. Dù sao thì 200 doanh nghiệp lớn nhất chiếm một tỷ lệ lớn về lao động, tài sản, doanh thu và thuế trong mọi hình thức sở hữu (nhà nước, tư nhân, nước ngoài) và mọi ngành ở Việt Nam. Trong một số trường hợp, những doanh nghiệp lớn nhất chiếm toàn ngành. Trong 200 doanh nghiệp lớn nhất, gần một nửa các doanh nghiệp chế tạo là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài.
Liên Xô sụp đổ khiến các doanh nghiệp Việt Nam phải đi tìm thị trường mới và sản xuất các hàng hóa dịch vụ mới. Thương mại tự do hóa cho phép các doanh nghiệp mở rộng và tăng trưởng. Hơn một nửa các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam là thành viên của các Tồng Công ty. Trong những năm 90, phần lớn các công ty thành viên không phải chịu sự giám sát quản lý cao độ mà được hưởng quyền tự quyết nhiều hơn để thực hiện các hoạt động của doanh nghiệp mình so với thời gian trước đó. Tuy nhiên, đôi khi các doanh nghiệp được yêu cầu thực hiện những ‘trách nhiệm xã hội’ như cứu giúp các công ty thành viên làm ăn thua lỗ để bảo vệ việc làm.
Cải cách doanh nghiệp nhà nước đang làm thay đổi điều này. Những hàng rào giữa các doanh nghiệp nhà nước đang được dỡ bỏ và cạnh tranh đang gia tăng giữa các doanh nghiệp. Khi tiến hành cổ phần hóa các công ty thành viên, một số tổng công ty đang mất đi sự kiểm soát chính thức. Cùng với thời gian, ý nghĩa chính xác của từ ‘tổng công ty’ ở Việt Nam đã trở nên kém rõ ràng hơn. Trong quá trình chuyển đổi thành mô hình công ty mẹ - con và tập đoàn kinh tế, nhiều tổng công ty đã tiến vào các lĩnh vực bất động sản, du lịch, chứng khoán và thành lập ra các công ty bảo hiểm và ngân hàng của riêng mình.
Các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam đã chứng tỏ rằng họ có năng lực để đối phó với sự cạnh tranh gia tăng. Họ đang chuyển dịch sang những sản phẩm phức tạp hơn và có chất lượng cao hơn, đa dạng hóa sang các sản phẩm liên quan và tiến vào những lĩnh vực kinh doanh mới. Họ đang thiết lập thương hiệu, mở rộng các kênh phân phối và thâm nhập các thị trường mới.
Các doanh nghiệp lớn cũng đang đưa ra quyết định về tương lai của mình. Một số doanh nghiệp lớn nhất đang đầu tư với mục tiêu khai thác thêm giá trị từ các hoạt động kinh doanh hiện tại. Một số đang hướng đầu tư vào những lĩnh vực ít có lợi ích xã hội nhưng đem lại nhiều lợi nhuận (hiện tại). Nhiều doanh nghiệp đang kết hợp cả hai loại đầu tư trên. Phong trào đầu tư bất động sản và chứng khoán cần được xem xét trong bối cảnh kinh tế rộng hơn trong đó các chiến lược kinh doanh khác tỏ ra rủi ro và khó thực hiện. Nếu ngành kinh doanh cốt lõi không có nhiều lợi nhuận cho lắm, thì sử dụng lợi nhuận từ việc đầu cơ để cấp vốn cho việc mở rộng và nâng cấp ngành nghề cốt lõi có thể là một chiến lược khả quan. Tuy nhiên, dựa vào các khoản đầu tư mang tính đầu cơ như là nguồn lợi nhuận chính cũng chứa đựng nhiều rủi ro.
Nâng cấp sản phẩm không chỉ là động thái của riêng các doanh nghiệp thuộc các ngành ‘công nghệ cao’. Một số doanh nghiệp được phỏng vấn thuộc ngành dệt may và thủy sản đã đầu tư để tạo thêm giá trị trong ngành sản xuất cốt lõi của mình. Với những doanh nghiệp này, họ có thể tìm được lợi nhuận khi phát triển kỹ năng và công nghệ. Tuy nhiên, quá trình này có thể không kém phần rủi ro so với việc đầu tư vào đất đai và chứng khoán giá cao. Công nghệ thì tốn kém và khó nắm bắt, công nhân cần phải được đào tạo và thị trường cần phải được hiểu rõ. Thường thì người ta xoay sang xây khách sạn, chung cư, khu công nghiệp và thành lập công ty con chuyên mua bán chứng khoán.
Chính phủ có thể khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực kinh doanh cốt lõi bằng cách h ạn chế đầu cơ trên thị trường bất động sản và thị trường tài chính. Có thể bước khởi đầu là thuế đất và thuế lãi vốn được thiết kế một cách phù hợp. Ngoài ra, chính phủ có thể hỗ trợ để cho các doanh nghiệp có được lao động kỹ năng bằng cách cải thiện chất lượng của các trường đại học và trường dạy nghề. Hai lĩnh vực chính sách này nổi lên như là những vấn đề chủ chốt trong các cuộc phỏng vấn. Xử lý được những vấn đề này sẽ giúp các doanh nghiệp lớn nhất của Việt Nam tăng trưởng và phát triển góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế.
Pass: sachdoanhtri
Thứ Tư, 20 tháng 4, 2011
EBOOK Bài nói chuyện về kinh tế Việt Nam của Ts. Lê Đăng Doanh
1.TÁC GIẢ:
2.NỘI DUNG:
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
2.NỘI DUNG:
Dưới đây là nguyên văn bài phát biểu của Ts Lê Đăng Doanh (LĐD), trong một cuộc họp kín của các thành viên Bộ Chính trị hôm 02-11-2004, phục vụ chương trình KX.10, nhằm chuẩn bị cho Đại hội lần thứ 10 của đảng CSVN.
Là chuyên gia kinh tế hàng đầu của CSVN, TS LĐD, nguyên Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương, trước đây là chuyên viên, cố vấn kinh tế cho nhiều đời tổng bí thư và thủ tướng chính phủ [như các ông Phạm Văn Đồng, Nguyễn Văn Linh, Đỗ Mười, Nguyễn Duy Trinh...]. Mặc dầu đã về hưu ông vẫn làm cố vấn cho các cơ quan kế hoạch và đầu tư. Văn bản được ghi lại trung thực từ băng ghi âm buổi nói chuyện với ngôn ngữ của các cán bộ chính quyền nói với nhau, không phải ngôn ngữ viết, có thể gây nên sự ngỡ ngàng. Tuy nhiên, với bài nói chuyện này tác giả cung cấp cho người nghe nhiều hiểu biết cụ thể và sinh động về hiện trạng kinh tế VN, và những quan điểm riêng của ông về những vấn đề lớn trong cách quản trị xã hội theo mô hình độc đảng chuyên chế ở VN.
Tài liệu đánh máy lại từ băng ghi âm buổi thuyết trình của Ts LĐD về bế tắc của kinh tế và xã hội VN. Băng ghi âm này có những đoạn không nghe rõ. Sau đây là toàn văn. Những chỗ có để ba chấm trong ngoặc đơn (…) là những đoạn băng mà người ghi lại nghe không rõ, những chữ trong ngoặc vuông [---] là người ghi lại thêm vào cho rõ ý của câu nói. [Hà Nội, 3-2005]
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
Thứ Ba, 19 tháng 4, 2011
EBOOK Việt Nam sự lựa chọn thành công-Harvard University
1.TÁC GIẢ: Harvard University
2.NỘI DUNG:
Đầu thập niên 1990, Chương trình Việt Nam của Đại học Harvard xuất bản một cuốn sách nhan đề Theo hướng rồng bay. Mục đích của cuốn sách này là nhằm cung cấp một số khuôn khổ chiến lược giúp cho việc xác định các ưu tiên và đưa ra các quyết sách quan trọng trong bối cảnh kinh tế của Việt Nam và thế giới lúc bấy giờ. Thế giới đã đổi thay nhiều kể từ khi cuốn sách Theo hướng rồng bay ra đời. Cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1997 đã phơi bày một số điểm yếu ẩn chứa bên trong mô hình phát triển của các nước Đông Á và Đông Nam Á. Quan trọng hơn, cấu trúc của nền kinh tế toàn cầu vẫn không ngừng biến chuyển và thay đổi với tốc độ ngày một nhanh hơn. Tự do hóa thương mại đã thực sự tạo ra thị trường toàn cầu cho các sản phẩm chế tạo và điều này cũng đang xảy ra với các sản phẩm dịch vụ. Hai thập kỷ của sáp nhập và mua bán công ty đã tạo ra những công ty toàn cầu khổng lồ đứng tại đỉnh của chuỗi cung ứng, thâm nhập sâu vào hệ thống sản xuất của cả nước đã và đang phát triển. Ngày nay, các nước đang phát triển không thể dựa vào những chiến lược công nghiệp hóa đã từng thành công trong quá khứ mà phải liên tục đánh giá lại thế vị của mình có tính đến những xu thế thay đổi rất nhanh trong đầu tư nước ngoài, thị trường tài chính,công nghệ, và nhân khẩu. Về phía mình, Việt Nam đã thay đổi rất nhiều sau gần 20 năm với thành tích tăng trưởng cao và rất nhiều người dân Việt Nam đã thoát khỏi cảnh đói nghèo. Với tư cách một quốc gia, Việt Nam ngày càng nhận được sự nể trọng và có ảnh hưởng ngày càng lớn hơn trong cộng đồng quốc tế. Có được thành công này một phần là nhờ vào những quyết định sáng suốt của chính phủ trong việc giải phóng lực lượng sản xuất và hội nhập ngày càng sâu sắc hơn vào nền kinh tế toàn cầu. Hệ quả tất yếu của những thay đổi chính sách này là nền kinh tế Việt Nam ngày nay đã trở nên phức tạp hơn rất nhiều, đòi hỏi việc ra chính sách phải hết sức thận trọng và sáng suốt. Thế nhưng sự “quá tải” trong vai trò của nhà nước và sự xuất hiện của những nhóm đặc quyền được hưởng đặc lợi từ việc giữ nguyên trạng thái hiện tại làm cho quá trình hoạch định chính sách trở nên nặng nề và thiếu động cơ tiếp tục cải cách. Trái với tinh thần khẩn trương và cấp thiết của những năm đầu đổi mới, Việt Nam ngày nay đang được bao trùm bởi một bầu không khí thỏa mãn và lạc quan, được nuôi dưỡng bởi thành tích thu hút đầu tư nước ngoài và sự ngợi ca của cộng đồng quốc tế và các nhà tài trợ. Trong bối cảnh mới này, với tư cách là một nghiên cứu có tính định hướng về chiến lược kinh tế của Việt Nam thì nội dung của cuốn sách Theo hướng rồng bay không còn thích hợp nữa và cần được viết lại
Pass: sachdoanhtri
Thứ Hai, 18 tháng 4, 2011
EBOOK Câu chuyện kinh tế
1.TÁC GIẢ: Internet
2.NỘI DUNG:
Bao gồm những bài viết về kinh tế, các nhà kinh tế, và xu hướng phát triển kinh tế,...
Sách DOANH TRÍ trân trọng
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
2.NỘI DUNG:
Bao gồm những bài viết về kinh tế, các nhà kinh tế, và xu hướng phát triển kinh tế,...
Sách DOANH TRÍ trân trọng
3.DOWNLOAD:
Click here
Pass: sachdoanhtri
Note: Đọc trước khi down
Chủ Nhật, 17 tháng 4, 2011
EBOOK Nền móng phát triển & mệnh lệnh cải cách
1.TÁC GIẢ: Ts. Vũ Minh Khương (Tuần Việt Nam giới thiệu)
2.NỘI DUNG:
Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn riêng của Ts. Vũ Minh Khương về nền móng phát triển của Việt Nam trong bối cảnh đất nước có những khó khăn hiện nay. Những ai đã trăn trở trong nhiều năm qua về sự yếu kém trong nền móng phát triển của Việt Nam có lẽ đều đã dự cảm từ lâu những khó khăn mà nước ta hiện nay đang trải qua: Tăng trưởng suy giảm, lạm phát cao, lòng dân xao xuyến. Trong khi việc giải quyết khó khăn nêu trên trước mắt dựa vào các biện pháp tình thế như điều chỉnh lãi suất ngân hàng, quản lý chặt chẽ việc mua bán ngoại tệ, hạn chế đầu tư vào các dự án kém hiệu quả, bài viết này đề cập đến yêu cầu giải quyết những yếu kém ở nền móng, là nguyên nhân gốc rễ không chỉ của những khó khăn hiện tại mà của cả những nguy cơ, thách thức sẽ ngày càng gay gắt trong tương lai.
3.DOWNLOAD:
Pass: sachdoanhtri
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)






















